Tài liệu dùng trong Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất
và trong cả năm 2013
WHĐ (14.01.2013)
– Như mọi năm, Hội đồng Tòa thánh cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu đều
phổ biến một Tài liệu dùng trong Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất (từ
ngày 18 đến 25 tháng 01). Chủ đề năm nay của Tuần cầu nguyện là Ngài đòi hỏi chúng con điều gì, lạy Đức
Chúa? (x. Mk 6, 6-8).
Tài liệu được dùng cho Tuần lễ cầu nguyện và cho cả năm 2013.
Tập tài liệu
được đề nghị cho Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất năm 2013 này do Phong trào Sinh viên Kitô
giáo Ấn Độ (SCMI) kết hợp với Liên đoàn đại học Công giáo Ấn Độ và Hội đồng
quốc gia các Giáo hội ở Ấn Độ thực hiện.
Tài liệu do Văn phòng
Tòa Giám mục Giáo phận Hải Phòng dịch từ bản tiếng Pháp “Textes pour la Semaine de
Prière pour l’Unité des Chrétiens et pour toute
l’année 2013”.
***
HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH CỔ VÕ SỰ HIỆP NHẤT CÁC KITÔ HỮU
TÀI LIỆU TUẦN CẦU NGUYỆN
CHO CÁC KITÔ HỮU HIỆP NHẤT VÀ CHO CẢ
NĂM 2013
Ngài
đòi hỏi chúng con điều gì, lạy Đức Chúa? (x. Mk 6, 6-8)
Do Hội đồng
Tòa Thánh cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu
và Ủy ban Đức tin
và Hiến pháp của Hội đồng Đại kết các Giáo hội
đồng soạn thảo và phát hành
***
Kính gửi tất cả những người tổ chức Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các
Kitô hữu
Tìm kiếm sự hiệp nhất trong suốt cả năm
Các Giáo hội ở phía Bắc bán cầu thường tổ chức Tuần cầu nguyện cho
các Kitô hữu hiệp nhất từ ngày 18 đến 25 tháng Giêng. Thời điểm này do Paul
Wattson đề nghị vào năm 1908 vì cho rằng đây là thời điểm bao trùm giữa lễ
thánh Phêrô và lễ thánh Phaolô. Do đó, sự lựa chọn này mang tính tượng trưng.
Còn các Giáo hội ở phía Nam bán cầu, vì tháng Giêng là thời gian nghỉ hè nên họ
lại thích chọn một thời điểm khác, chẳng hạn vào khoảng lễ Hiện xuống (do phong
trào Đức tin và Hiến pháp gợi ý vào năm 1926). Đây cũng là một thời điểm tượng
trưng cho sự hiệp nhất của Giáo hội.
Chúng tôi cũng muốn duy trì tinh thần uyển chuyển này để khích lệ
và mời gọi các bạn tìm hiểu tài liệu này vào các thời điểm khác nhau trong suốt
cả năm, qua đó chúng ta bày tỏ tầm mức hiệp thông mà các cộng đoàn Giáo hội đã
đạt tới và cùng nhau cầu nguyện cho tới khi đạt tới sự hiệp nhất hoàn toàn như
Chúa Kitô mong ước.
Thích nghi tài liệu
Đây là tài liệu được đề nghị, do vậy khi sử dụng, nếu có thể,
chúng ta cố gắng thích nghi nó với thực tế ở mỗi nơi và mỗi quốc gia khác nhau.
Chúng ta nên để ý đến những thực hành phụng vụ và đạo đức cũng như bối cảnh văn
hóa xã hội ở mỗi địa phương. Sự thích nghi như thế thông thường là kết quả của
một sự hợp tác đại kết. Trong một số quốc gia, cơ cấu đại kết đã hình thành và
nó cho phép họ có thể thực hiện việc hợp tác này. Chúng tôi hy vọng việc thích
nghi Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất với thực tế của các địa phương
có thể tạo ra những cơ chế hợp tác đại kết ở những địa phương vẫn chưa có được.
Cách thức sử dụng tài liệu dùng cho Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu
hiệp nhất
– Đối với các Giáo hội và các cộng đoàn Kitô hữu cử hành Tuần
cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất trong một nghi lễ duy nhất, thì được đề
nghị dùng mẫu Cử hành đại kết phần Lời Chúa trong tài liệu này.
–
Các Giáo hội và các cộng đoàn Kitô hữu cũng có thể sử dụng các bản văn được đề
nghị dùng trong phần Tám Ngày và chọn phần lời nguyện ở phần phụ thêm ở cuối
tập sách này làm tài liệu để cử hành cầu nguyện hay để cử hành đại kết theo Lời
Chúa.
–
Các Giáo hội và các cộng đoàn Kitô hữu cử hành Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu
hiệp nhất các ngày trong tuần có thể lấy bản văn Tám Ngày làm gợi ý cho việc cử
hành.
–
Với những anh chị em muốn tìm hiểu Kinh thánh về chủ đề Tuần cầu nguyện hiệp
nhất này, anh chị em có thể dựa vào các bài suy niệm Kinh thánh trong phần Tám
Ngày. Các bài suy niệm mỗi ngày có thể kết thúc bằng một lời nguyện.
–
Với những anh chị em muốn cầu nguyện cá nhân, anh chị em cũng có thể dùng tài
liệu này để làm tài liệu cầu nguyện cho mình và anh chị em cũng được mời gọi
hiệp thông với tất cả mọi người trên thế giới đang cầu nguyện cho Giáo hội Chúa
Kitô có được sự hiệp nhất hữu hình rộng lớn hơn.
BẢN VĂN KINH THÁNH
(Mk 6, 6-8)
“Tôi
sẽ mang gì vào chầu ĐỨC CHÚA và cúi mình trước Thiên Chúa tối cao? Phải chăng
tôi sẽ mang những lễ toàn thiêu, những con bê một tuổi vào chầu Đức Chúa? Phải
chăng ĐỨC CHÚA ưa thích từng ngàn dê đực, và hằng vạn suối dầu? Phải chăng tôi
sẽ dâng con trai đầu lòng để chuộc lỗi cho tôi, dâng con ruột để đền tội cho
chính mình?” “Hỡi người, bạn đã được nói cho hay điều nào là tốt, điều nào ĐỨC
CHÚA đòi hỏi bạn: đó chính là thực thi công bình, quý yêu nhân nghĩa và khiêm
nhường bước đi với Thiên Chúa của bạn”.
(Bản dịch của
Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ)
DẪN VÀO CHỦ ĐỀ NĂM 2013
Ngài
đòi hỏi chúng con điều gì, lạy Đức Chúa?
(x. Mk 6, 6-8)
Năm
2013, Phong trào Sinh viên Kitô giáo Ấn Độ (SCMI) sẽ kỷ niệm 100 năm ngày thành
lập. Nhân dịp này, chúng tôi mời gọi họ kết hợp với Liên đoàn đại học Công giáo
Ấn Độ và Hội đồng quốc gia các Giáo hội ở Ấn Độ soạn thảo tài liệu Tuần cầu
nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu năm 2013. Tài liệu Tuần cầu nguyện cho sự
hiệp nhất các Kitô hữu năm nay được soạn thảo và suy tư trong bối cảnh xã hội
và Giáo hội tại Ấn Độ, nơi mà tầng lớp những người Dalit vẫn còn chịu nhiều bất
công trầm trọng. Suy tư về sự hiệp nhất trong bối cảnh như thế, các nhà soạn
thảo đề nghị nên liên kết việc tìm kiếm sự hiệp nhất hữu hình với việc phá đổ
hệ thống đẳng cấp xã hội và đề cao sự cộng tác của những người nghèo khổ nhất
vào sự nghiệp hiệp nhất các Kitô hữu.
Trong
hệ thống đẳng cấp xã hội ở Ấn Độ, những người Dalit được liệt vào tầng lớp “hạ
cấp”. Xã hội Ấn Độ có nhiều đẳng cấp và những đẳng cấp này là một hình thức
phân tầng xã hội dựa trên những khái niệm về sự trong sạch và ô uế trong các
nghi lễ tôn giáo. Trong hệ thống đẳng cấp này, có đẳng cấp “cao hơn” hay
đẳng cấp “thấp hơn”. Và những người thuộc tầng lớp Dalit là những người bị thiệt thòi nhất trong
hệ thống đẳng cấp này. Tầng lớp Dalit bị coi như tầng lớp ô uế nhất và gây ra ô
uế; do vậy người ta đặt tầng lớp này ở bên ngoài hệ thống đẳng cấp và thậm chí
thời xưa người ta gọi tầng lớp này là những người “tiện dân”
(intouchables). Những người tiện dân này bị gạt ra bên lề xã hội, quyền chính
trị của họ ít được tôn trọng, họ bị khai thác bóc lột về kinh tế, và bị lệ
thuộc về mặt văn hóa. Vậy mà có đến 80% người Công giáo Ấn Độ thuộc tầng lớp
tiện dân này.
Mặc
dù đã đạt được những tiến bộ nổi bật trong thế kỷ XX, nhưng trong các Giáo hội
ở Ấn Độ vẫn còn tồn tại nhiều chia rẽ về giáo lý, giữa giáo lý được kế thừa từ
các Giáo hội châu Âu và giáo lý được kế thừa từ những nơi khác. Sự chia rẽ ngay
bên trong Giáo hội và giữa các Giáo hội này còn bị khắc sâu hơn do hệ thống
đẳng cấp xã hội. Giống như chủ nghĩa apartheid,
chủ nghĩa chủng tộc hay chủ nghĩa dân tộc, hệ thống đẳng cấp này gây ra một
thách thức lớn trong việc xây dựng sự hiệp nhất các Kitô hữu ở Ấn Độ và trong
việc làm chứng về đời sống luân lý và mục vụ của Giáo hội với tư cách là Thân
thể duy nhất của Đức Kitô. Thật vậy, vấn đề đẳng cấp xã hội, một vấn đề gây
chia rẽ trong Giáo hội Ấn Độ, chính là vấn đề rất nhức nhối về giáo lý. Chính
trong bối cảnh này mà Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất năm nay mời
gọi chúng ta đào sâu đoạn Kinh thánh, rất được biết đến, trích trong sách tiên
tri Mikha 6,6-8 và đặc biệt nhấn mạnh đến câu hỏi “Ngài đòi hỏi chúng con
điều gì, lạy Đức Chúa?” là chủ đề chính cho Tuần cầu nguyện năm nay. Dựa
vào kinh nghiệm của những người Dalit, chúng ta sẽ đưa ra những suy tư thần học
đặt nền tảng trên chủ đề Kinh thánh.
Mikha
là một trong 12 tiên tri nhỏ của Cựu Ước. Những tiên tri này thi hành sứ vụ ở
Giuđa khoảng từ năm 737 đến 690 trước Chúa giáng sinh. Ông quê ở Môresét, phía
tây nam Giêrusalem. Ông thi hành sứ vụ tiên tri dưới thời các vua Giuđa là
Giôtham, Akhát và Khítkigia (Mk 1,1). Ông sống cùng thời, cùng bối cảnh chính
trị, kinh tế, luân lý và tôn giáo với tiên tri Isaia và cùng với Isaia, ông
chứng kiến sự sụp đổ của vương quốc Samari và cuộc xâm lăng vương quốc phía Nam
của vua Assyri vào năm 701 trước Chúa giáng sinh. Nỗi đau buồn mà ông khóc
thương cho số phận dân tộc mình thấm đẫm và vang vọng trong từng trang sách của
ông. Ông cũng bày tỏ mối tức giận đối với những người có trách nhiệm và đối với
các tư tế những người đã phản bội lại dân tộc này.
Sách
tiên tri Mikha thuộc truyền thống văn chương ngôn sứ. Trọng tâm của sứ điệp mà
ông loan báo đó là tuyên sấm Thiên Chúa xét xử dân Người. Cuốn sách được chia
thành ba phần, chúng ta bắt đầu từ phần xét xử tổng quát (chương 1-3) tiếp đến
là phần công bố về ơn cứu độ (chương 4-5) và sau cùng là phần xét xử đúng nghĩa
và cuộc cử hành ơn cứu độ (chương 6-7). Trong phần đầu, Mikha mạnh mẽ lên án
những người nắm giữ quyền lực, chính trị cũng như tôn giáo, vì họ lạm dụng
quyền bính và bóc lột người nghèo. Chúng “lột da khỏi thân người ta và lóc
thịt khỏi xương của họ” (3,2) và “xét xử dựa theo quà cáp” (3,11).
Phần hai, Mikha khích lệ dân chúng hành hương về “Núi nhà Đức Chúa… để Người
dạy ta biết lối của Người và bước theo đường Người chỉ vẽ” (4,2). Phần ba,
Mikha nói đến cuộc xét xử của Thiên Chúa đồng thời mời gọi dân chúng chờ đợi ơn
cứu độ trong tin tưởng và hy vọng vào Thiên Chúa là Đấng “chịu đựng lỗi lầm,
bỏ qua tội ác” (7,18). Niềm hy vọng này cụ thể hướng về Đấng Messia là Đấng
sẽ đem lại “hòa bình” (5,4) và sẽ xuất hiện ở Bêlem (5,1) “để đem ơn
cứu độ đến tận cùng trái đất” (5,3). Sau cùng, Mikha mời gọi tất cả mọi dân
tộc trên thế giới cùng hòa nhập vào cuộc hành hương này để được tham dự vào nền
công lý và hòa bình là ơn cứu độ của toàn dân.
Chủ
đề của Tuần cầu nguyện cho các Kitô hữu hiệp nhất năm nay được lấy từ sách
Mikha đoạn 6,1–7,7. Trong đoạn này, Mikha tha thiết mời gọi dân chúng thực thi
công bình và sống khiêm hạ trước mặt Thiên Chúa. Mikha nhắc lại sự công chính
và bình an mà Thiên Chúa đã thực thi và ân ban cho dân Ngài trong dòng lịch sử,
nhưng ông cũng nhấn mạnh và khẳng định rằng những ân ban của Thiên Chúa hoàn
toàn tùy thuộc vào đời sống luân lý cụ thể của họ. Cũng giống như các tiên tri
sống vào cuối thời quân chủ của Israel, Mikha nhắc lại cho dân chúng thấy Thiên
Chúa đã cứu họ khỏi kiếp nô lệ người Ai Cập và qua các giao ước, ngài mời gọi
họ tiến bước vào một xã hội được xây dựng trên nhân phẩm, công bằng và chính
trực. Như vậy, niềm tin đích thực vào một Thiên Chúa gắn liền với sự thánh
thiện cá nhân và việc thực thi công bình. Thiên Chúa ban ơn cứu độ cho những
người nô lệ bị áp bức và những người khiêm hạ không phải vì các lễ nghi mà họ
cử hành, các hy lễ và lễ vật toàn thiêu mà họ dâng tiến (6,7) nhưng vì họ thực
thi công bình, yêu mến nhân nghĩa và bước đi với Ngài (6,8).
Chúng
ta có thể so sánh hoàn cảnh mà dân Thiên Chúa phải trải qua trong thời Mikha
với hoàn cảnh hiện thời của người Dalit trên nhiều bình diện khác nhau. Những
người Dalit hiện thời cũng là nạn nhân của áp bức và bất công do người ta không
công nhận những quyền hạn và phẩm giá của họ. Ngày xưa Mikha đã sánh ví những
người tham lam bóc lột người nghèo là những người “ăn thịt dân tôi” …
(3,3). Mikha đã vứt bỏ những nghi lễ và những lễ vật không mấy giá trị do không
người ta quan tâm đến sự công bình, nhưng đồng thời ông cho người ta biết điều
mà Thiên Chúa muốn đó chính là sự công bình. Sự công bình chính là cốt lõi
trong tôn giáo và các nghi lễ của chúng ta. Và sứ điệp ấy của Mikha hiện vẫn
mang tính tiên tri bởi vì ngày nay, người ta cũng vẫn dựa vào những tiêu chuẩn
tôn giáo và những khái niệm lễ nghi trong sạch, ô uế để biện minh cho việc phân
biệt đối xử với những người Dalit. Niềm tin có ý nghĩa hay không là tùy thuộc
việc nó có gắn kết với sự công bình hay không. Sứ điệp nhấn mạnh đến chiều kích
luân lý trong đời sống đức tin của tiên tri Mikha mời gọi chúng ta phải tự hỏi,
trong bối cảnh hiện tại của người Dalit, Thiên Chúa đang thực sự chờ đợi chúng
ta điều gì: dâng tiến lễ vật hay bước đi với Ngài trong công chính và khiêm
nhượng?
Con
đường mà các môn đệ Đức Giêsu bước đi nhất thiết phải là con đường công bình,
bác ái và khiêm nhượng. Từ “bước đi” ở đây được hiểu theo nghĩa ẩn dụ.
Bởi vì tám ngày cầu nguyện được chủ ý kết nối với nhau một cách sinh động và
liên tục giống như những bước đi trên một con đường, một con đường đầy năng
động như đặc tính vốn có của người môn đệ Chúa Kitô. Hơn nữa, khi lấy chủ đề “Lạy
Thiên Chúa sự sống, xin dẫn chúng con tới sự công chính và an bình”, đại
hội lần thứ 10 Hội đồng đại kết các Giáo hội sẽ diễn ra ở Busan, Hàn Quốc vào
năm 2013, cũng muốn làm nổi bật hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi, Đấng đồng hành với
nhân loại và hướng dẫn lịch sử nhân loại đồng thời mời gọi mọi dân tộc cùng
bước theo Ngài.
Các
chủ đề của tám ngày trong tuần gợi lên cho chúng ta hình ảnh của những bước đi
tiếp nối nhau. Các chủ đề này sẽ giúp chúng ta đào sâu những cách thức khác
nhau mà người môn đệ đích thực của Chúa Kitô phải bước đi trên con đường công
chính để tìm được sự sống (Cn 12,28a).
Ngày
thứ nhất: bước đi trong đối thoại. Chúng ta suy tư về tầm quan trọng của việc đối
thoại, gặp gỡ trao đổi và việc đối thoại, trao đổi gặp gỡ sẽ giúp chúng ta vượt
lên những trở ngại như thế nào. Những khả năng trong lời nói và lắng nghe cũng
rất cần thiết trong tiến trình đại kết cũng như trong công cuộc giải phóng các
dân tộc trên mặt đất. Việc đối thoại đích thực này có thể giúp chúng ta nhận ra
Đức Kitô dễ dàng hơn.
Ngày
thứ hai: bước đi với thân xác đầy thương tích của Đức Kitô. Khi chúng ta nhận ra
Đức Kitô chịu đóng đinh liên đới và nên một với các “dân tộc thương
đau”
trên trái đất như những người Dalit, thì tự chúng ta, với tư cách người Kitô
hữu, chúng ta sẽ tìm cách liên đới với họ một cách sâu sắc hơn. Đặc biệt, điều
này giúp cho chúng ta thấy mối liên hệ giữa Thánh Thể và công lý và mời gọi các
Kitô hữu khám phá ra những cách thức thực hành sống Bí tích Thánh Thể trong thế
giới hôm nay.
Ngày
thứ ba: bước đi hướng tới tự do. Hôm nay chúng ta được mời gọi biểu dương những
cố gắng nhằm chống lại những tất cả những gì nô lệ hóa con người mà tất cả các
cộng đoàn đang bị áp bức trên thế giới, như những người Dalit bên Ấn Độ, đang
thực hiện. Là những Kitô hữu đang dấn thân cho một sự một hiệp nhất rộng lớn
hơn, chúng ta hiểu rằng việc loại bỏ tất cả những gì ngăn cách con người với
nhau là việc làm thiết yếu để đạt được sự sống viên mãn và sự tự do trong Chúa
Thánh Thần.
Ngày
thứ tư: bước đi như những người con cùng chung sống trong gia đình trái đất. Khi chúng ta ý thức
được chỗ đứng của mình trong các tạo vật của Thiên Chúa, chúng ta sẽ sát lại
gần nhau và chúng ta sẽ nhận ra rằng chúng ta lệ thuộc vào nhau cũng như lệ
thuộc vào trái đất. Khi ý thức được cần phải khẩn cấp bảo vệ môi trường và cần
phải thực sự chia sẻ với nhau và công bằng đối với các tài nguyên trên trái
đất, người Kitô hữu chúng ta được mời gọi phải sống chứng tá về điều đó một
cách mạnh mẽ trong tinh thần năm thánh.
Ngày
thứ năm: bước đi như bạn hữu của Đức Giêsu. Hôm nay chúng ta suy tư về những hình
ảnh tình bạn, tình yêu thương đồng loại trong Kinh thánh và những mẫu tình yêu
mà Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại. Việc chúng ta nhận biết mình là
những người bạn hữu rất yêu mến của Thiên Chúa sẽ tác động đến những tương quan
trong cộng đoàn các Kitô hữu. Khi chúng ta ý thức như thế thì sẽ không còn
những hàng rào cản trở loại trừ trong lòng Giáo hội bởi vì Giáo hội lúc đó là
một cộng đoàn nơi tất cả mọi người đều là bạn hữu rất yêu mến của Chúa Giêsu.
Ngày
thứ sáu: bước đi vượt lên những trở ngại. Bước đi với Thiên Chúa đó chính là bước đi
vượt lên những cản trở đang gây cho con cái Giáo hội chia rẽ và đau khổ. Các
bài đọc Kinh thánh hôm nay chỉ cho chúng ta những cách thức khác nhau để vượt
lên những cản trở của con người và đỉnh điểm là giáo huấn của thánh Phaolô: “Quả
thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Kitô, đều mặc lấy
Đức Kitô. Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn
ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô” (Gl 3,
27-28).
Ngày
thứ bảy: bước đi trong tình liên đới. Khiêm nhường bước đi với Thiên Chúa đó là bước
đi trong tình liên đới với tất cả mọi người đang dấn thân cho công lý và hòa
bình. Bước đi này không chỉ tác động đến cá nhân các tín hữu mà còn tác động
đến cả bản chất và sứ mạng đích thực của cộng đoàn tín hữu. Giáo hội được mời
gọi chia sẻ đau khổ của mọi người và khích lệ mọi người chia sẻ những khổ đau
của nhau qua việc bảo vệ và quan tâm đến những người nghèo, những người thiếu
thốn và những người bị gạt ra bên lề xã hội. Tất cả điều này đều ẩn chứa trong
lời cầu nguyện của chúng ta trong tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu
này.
Ngày
thứ tám: bước đi với các cuộc cử hành. Các bản văn Kinh thánh hôm nay đề cập đến
những việc cử hành. Việc cử hành này không có nghĩa là vui mừng về những gì đã
diễn ra trong quá khứ nhưng theo nghĩa là bày tỏ niềm hy vọng vào Thiên Chúa và
công lý của Người. Tương tự như vậy, việc cử hành Tuần cầu nguyện cho các Kitô
hữu hiệp nhất là nhằm tỏ lộ niềm hy vọng rằng sự hiệp nhất của chúng ta sẽ được
thể hiện khi Chúa muốn và theo cách thức mà Ngài muốn.
Điều
Chúa đòi hỏi chúng ta hôm nay đó là chúng ta phải bước theo con đường công
chính, nhân hậu và khiêm cung. Bước theo con đường khiêm nhượng này là chúng ta
bước theo con đường hẹp của Nước Trời chứ không phải bước theo những con đường
thế lực ngày nay. Đi theo con đường chính trực này, chúng ta có thể sẽ phải
hứng chịu sự khốc liệt của chiến trận, sự cô lập đi đôi với sự chống đối, và tự
chuốc lấy nguy cơ bị “những quyền lực thần thiêng và với những bậc thống trị
thế giới tối tăm này” (Ep 6,12) phản kháng. Điều
này đặc biệt đúng khi chúng ta công khai tuyên bố đứng về phía công lý, khi ấy
chúng ta sẽ bị người ta tìm cách đổ tội cho là những kẻ xúi giục bạo loạn hay
là những kẻ gây mất an ninh trật tự. Trong bối cảnh đó, chúng ta cần xác tín sự
an bình và hiệp nhất chỉ thực sự toàn diện khi nó được xây dựng trên nền tảng
công lý.
Bước
đi khiêm nhượng này được diễn tả một cách ẩn dụ qua tiếng trống của người Dalit
ở Ấn Độ, những người được đặc biệt quan tâm trong Tuần cầu nguyện cho các Kitô
hữu hiệp nhất này. Thật vậy, trong các làng của Ấn Độ, các cộng đoàn người
Dalit thường đánh trống trong các nghi lễ và cả trong công việc. Người Dalit
đánh trống không chỉ để cầu xin thần linh hiện diện nhưng còn nhằm xua đuổi
những điều mà người ta cho là xấu xa để giúp cộng đoàn an tâm vượt qua những
thời khắc chuyển tiếp. Ngày nay, người ta lấy lại tiếng trống đặc biệt này để
diễn tả nét văn hóa và bản sắc của người Dalit. Do đó, khi nói đến “bước đi
khiêm nhượng theo nhịp trống của người Dalit”, là chúng ta phải nói đến
cuộc đời khiêm hạ của những người bị ruồng bỏ nhất trong xã hội, những cuộc đời
hằng gợi lên cho chúng ta sự hiện diện không lay chuyển của Thiên Chúa. Chúng
ta cũng phải nói đến cách sống khiêm hạ nhưng đầy sức mạnh chống lại sự dữ và
góp phần xây dựng thiện ích của xã hội theo nghĩa rộng của người Dalit. Chúng
ta nhắc đến cách sống khiêm nhượng như thế là nhằm khẳng định cho mọi người
thấy văn hóa và bản sắc của người Dalit chính là nơi sự hiện diện của Thiên
Chúa bày tỏ mà người ta không thể ngờ tới (x. Mt 25, 40). Cách sống khiêm hạ
này sẽ dẫn đến một sự liên đới đích thực cũng như những hình thức hiệp nhất Kitô
hữu, vượt lên tất cả phân biệt đối xử hay loại trừ bất công.
Một
số cộng đoàn người Dalit ở Ấn Độ rất gắn bó với nghề “làm dép”. Đây là
nghề kiếm sống đặc trưng nhưng cũng là biểu tượng cho sự cố gắng mà họ đang
thực hiện nhằm xây dựng một cuộc sống mạnh mẽ và hy vọng, bất chấp điều kiện
sống tệ hại và phi nhân mà họ phải gánh chịu. Qua các bài suy niệm hằng ngày,
chúng ta nhận thấy sức mạnh tồn tại của người Dalit trước những thử thách giống
đôi dép mà, dù sống ở bất cứ đâu, chúng ta đều sử dụng để đi trên con đường
công chính, hầu thực hiện điều Chúa đòi hỏi chúng ta. Đức Giáo Hoàng Gioan
Phaolô II đã khẳng định: “Tất cả những gì tương tự như các định kiến do phân
biệt đẳng cấp trong tương quan giữa các Kitô hữu đều đi ngược lại sự liên kết
nhân loại đích thực, đe dọa đời sống thiêng liêng chân chính và cản trở rất lớn
đến sứ mạng truyền giáo của Giáo hội”. Xin Thiên Chúa công bình, hiệp nhất
và an bình củng cố và biến chúng ta thành những dấu chỉ liên kết nhân loại đích
thực để chúng ta thực hiện điều Chúa đòi hỏi chúng ta.
CÔNG VIỆC CHUẨN BỊ TÀI LIỆU
CHO TUẦN CẦU NGUYỆN CHO CÁC KITÔ HỮU
HỢP NHẤT NĂM 2013
Tài
liệu này được đúc kết và hoàn thiện dựa trên các tài liệu sơ thảo do Phong trào
Sinh viên Kitô giáo Ấn Độ (SCMI) kết hợp với Liên đoàn đại học Công giáo Ấn Độ
và Hội đồng quốc gia các Giáo hội ở Ấn Độ chuẩn bị và đề nghị.
Chúng
tôi xin hết lòng cảm ơn tất cả những người đã tham gia thực hiện tài liệu này.
Đặc biệt chúng tôi xin cảm ơn:
Đức
Thượng phụ Dr Geevarghese Mar Coorilos, Chủ tịch Phong trào SCMI (Giáo Hội Syro
Malankara Jacobite)
Bà
Bernadine, Liên đoàn đại học Công giáo Ấn Độ (Giáo Hội Công Giáo)
Tiến
sĩ Aruna Gnanadason, cựu sinh viên và thành viên Phong trào SCMI (Giáo Hội miền
Nam
Ấn Độ)
Tiến
sĩ Peniel Rufus Rajkumar thuộc Đại học thần học thống nhất (Giáo Hội miền Nam Ấn
Độ)
Cha
Vineeth Koshy, Hội đồng quốc gia các Giáo hội ở Ấn Độ (Giáo hội Chính thống
Syro Malankara)
Bà
Anita Hepsibah, Phong trào SCMI (Giáo Hội miền Nam Ấn Độ)
Bà
Chrisida Nithyakalyani, Phong trào SCMI (Giáo hội Tin lành phái Luther Tamil)
Mục
sư Raj Bharath Patta, Phong trào SCMI (Giáo hội Tin lành Luther Andhra).
Các
tài liệu sơ thảo do nhóm chuẩn bị thực hiện sau đó đã được các thành viên Ủy ban Đức Tin và Hiến pháp của Hội đồng Đại kết các Giáo hội
và Hội đồng Tòa thánh cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu của Giáo hội Công giáo
đúc kết và hoàn thiện. Và tháng 9 năm 2011, tại Bangalore (Ấn Độ), Ủy ban quốc tế này đã gặp lại các thành viên và các đối tác
của Phong trào SCMI và bày tỏ lời cám ơn đặc
biệt chân thành về sự tiếp đón nồng hậu và lòng
hiếu khách của Phong trào SCMI dành cho họ trong dịp này.
(Còn tiếp)