![]()
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT THEO TINH THẦN CÔNG GIÁO
Vatican News (22.5.2021) - Học thuyết xã
hội của Công giáo phản ảnh sự đồng hành của Giáo hội với sự phát triển của xã hội.
Điều này có nghĩa Giáo hội đưa ra những chỉ dẫn nhằm giúp con người vững bước
trên con đường của Tin Mừng. Trong lãnh vực công nghệ kỹ thuật cũng thế, Giáo hội
luôn có những phân định và hướng dẫn kịp thời. Có lẽ sau cuộc cách mạng công
nghiệp đầu thế kỷ 18, nhất là sau hai cuộc thế chiến, Giáo hội nhận ra công nghệ
kỹ thuật thường gắn liền với đời sống của con người. Nói cách khác, lao động
thường liên quan đến công nghệ và kỹ thuật. Do đó, nếu quan tâm đến vấn đề lao
động, công việc, thì phải để tâm đến sự phát triển của công nghệ và kỹ thuật.
Theo nghĩa này chúng ta có thể tìm thấy những hướng dẫn, phát triển từng bước,
phù hợp với từng giai đoạn phát triển của công nghệ.
1. Công nghệ kỹ thuật cần
luật pháp
Ngay từ Thông Điệp "Rerum Novarum" (Tân
Sự -1891) quan trọng đầu tiên, Giáo hội đã đề cập đến công nghệ như là yếu tố ảnh
hưởng đến các cơ cấu của xã hội, của các tầng lớp lao động. Chính ảnh hưởng này
có thể phá vỡ những quy tắc của công bằng và hòa bình, bởi ai nắm được công nghệ,
người ấy có thể chi phối, điều khiển nhiều người. Trong tình trạng này, đạo đức
xã hội có thể bị ảnh hưởng xấu. Nền tư bản chủ nghĩa lợi dụng công nghệ để bóc
lột tầng lớp lao động là điều có thể thấy. Do đó, Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã
kêu gọi các quốc gia cần soạn thảo những điều luật và thúc đẩy một hệ thống lao
động công bằng.
Nền tảng cho luật về công nghệ mà Thông điệp này
đề nghị là lý thuyết về luật tự nhiên và về quyền tự nhiên. Đó là dấu ấn mà
Thiên Chúa đặt nơi mỗi người qua luật lương tâm. Do đó, luật này phù hợp với
nhu cầu và khát vọng của con người về gia đình, xã hội dân sự, sở hữu, làm việc,
lập hội…Điều đáng lưu ý là pháp luật chính phủ hoạch định, thì phải hợp công lý
thì mới có giá trị.[1] –
kể cả luật liên quan đến công nghệ kỹ thuật.
Phải ghi nhận rằng "Rerum Novarum" và
các tài liệu của Giáo hội sau đó cũng nhìn nhận giá trị của sự phát triển công
nghệ. Sẽ là cực đoan nếu lên án công nghệ (theo Quadragesimo Anno -1931).
Thay vào đó, lúc này cần một hệ thống pháp luật như "Rerum Novarum" đề
nghị, để vừa phù hợp với luật luân lý phổ quát, vừa giải đáp được những vấn đề
kinh tế xã hội, vốn đang phát triển nhanh chóng nhờ vào kỹ thuật công nghệ. Thực vậy, 30 năm sau, một lần nữa Giáo hội đề nghị nhìn nhận khoa học kỹ thuật
như là hình thức để giúp phát triển kinh tế và ổn định đời sống.
Một mặt nhờ vào hệ thống luật pháp đang được cải
thiện để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo; mặt khác, Giáo hội như là người Mẹ và
là Thầy (Mater et Magistra -1961), đề nghị tác quốc gia lựa chọn những công nghệ
kỹ thuật phù hợp để áp dụng vào: không chỉ nền công nghiệp hiện đại, nhưng cả nền
nông nghiệp và dịch vụ. Mục đích mà Giáo hội nhắm tới là để ổn định toàn bộ nền
kinh tế, nhất là giúp những người nông dân cũng được thừa hưởng thành quả của
công nghệ, khi ứng dụng vào công việc lao động của mình. Tuy nhiên, Giáo hội cũng
nhìn thấy những nơi nhờ vào công nghệ mà lợi thế cạnh tranh quá lớn. Khi đó,
công bằng xã hội và kinh tế sẽ bị phá vỡ. Phải chăng vì điều này mà hai cuộc
chiến tranh thế giới đã xảy ra?
2. Công bình như là đòi hỏi
của phát triển công nghệ
Để tìm lại nền hòa bình trên trái đất, liền sau
đó, Giáo hội thấy được vai trò của công nghệ có thể giúp lấy lại thế cân bằng của
các quốc gia. Ngay từ đầu Thông Điệp "Pacem in Terris"[2] (Hòa
bình trên Thế giới -1963), Đức Giáo hoàng Gioan XXIII lặp lại tầm quan trọng của
công nghệ kỹ thuật[3].
Theo đó, công nghệ như là một cơ hội, công cụ để con người có thể cùng nhau tạo
lập lại trật tự quốc gia và thế giới theo ý định của Thiên Chúa. Đức Giáo hoàng
nhấn mạnh rằng: “Điều nổi lên đầu tiên và quan trọng nhất từ sự tiến bộ của tri
thức khoa học và những phát minh của công nghệ là sự vĩ đại muôn trùng của
chính Thiên Chúa, Đấng đã sáng tạo ra cả con người và vũ trụ.”[4] Đó
là Thiên Chúa công bằng, Ngài tạo dựng con người theo hình ảnh của Thiên Chúa
và ban cho con người có phẩm giá như nhau, để cùng nhau kiến tạo hòa bình.
Phải thừa nhận ngay rằng, những hướng dẫn của Giáo
hội đã tác động hiệu quả, không chỉ đến sự hoàn thiện của luật pháp, nhưng còn
đi vào đời sống, chính trị, văn hóa, xã hội và nhất là giáo dục. Từ đây, tiến bộ
của khoa học kỹ thuật được áp dụng một cách rộng rãi hơn, nhiều phát minh giúp
cho sự phát triển của con người. Hẳn nhiên, chính Giáo hội cũng khuyến khích
con người tham gia vào việc nghiên cứu, học thuật để cải thiện công nghệ. Lý do
là vì “Những tiến bộ mới nhất của khoa học và kỹ thuật đã có ảnh hưởng sâu rộng
trên con người, và nó đã tác động trên khắp mặt đất một trào lưu nhằm gia tăng
sự cộng tác và siết chặt sự hiệp nhất của họ với nhau.”[5] Trong
đó, những giá trị Tin Mừng như: bình đẳng, lợi ích công, sự thật, công lý phải
được đề cao trong tiến trình phát triển công nghệ này. Ngay từ đây, Giáo hội đã
đề ra một nền giáo dục con người (nhất là thanh niên vốn gần gũi với công nghệ
kỹ thuật) phải được phát huy toàn diện. Phải chăng lời của Đức Giáo hoàng Gioan
XIII từ những thập niên 70 đáng để ta suy nghĩ về thời công nghệ 4.0, 5.0...?
“Trong rất nhiều lãnh vực thường không có sự
thăng bằng giữa sự học giáo lý với sự học các khoa đời: người ta theo đuổi các
khoa đời tới mức độ tối cao, trong khi đó, về việc huấn luyện đạo giáo, người
ta đứng trong mức sơ đẳng. Cho nên, nhất thiết, thanh niên phải có một nền giáo
dục đầy đủ và liên tục, thực hiện thế nào để nền học thức đạo giáo và sự tinh
luyện lương tâm phải tiến đồng nhịp với các kiến thức khoa học và sự tài khéo kỹ
thuật, luôn luôn thăng tiến.”[6]
3. Phát triển kinh tế
để phục vụ con người
Theo ý hướng trên, Công Đồng Vaticanô II
(1962-1965) đã mở ra một chân trời mới cho mọi lãnh vực, trong đó có công nghệ
kỹ thuật. Một trong những tài liệu quan trọng liên quan đến vấn đề này là “Hiến
chế Mục vụ về Giáo hội trong Thế giới ngày nay” (Gaudium et Spes -1965).
Trong đó, Giáo hội cho thấy công nghệ lúc này đã kéo mọi quốc gia và mọi người
vào cuộc. Hơn nữa, chính sự phát triển này đang thay đổi tư duy, văn hóa và cả
đời sống tâm linh của con người. Nhất là các nghành khoa học kỹ thuật phát triển,
kéo theo là con người muốn chinh phục không chỉ mặt đất này, nhưng còn các hành
tinh trong vũ trụ. Phải thừa nhận, lúc này khoa học thực sự lên ngôi. Nhiều
phong trào thượng tôn lý trí và khoa học đến chỗ cực đoan, là loại bỏ Thiên
Chúa. Có thể nói, công nghệ là một trong những nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa vô
thần.
Thực vậy, Công Đồng này cho thấy một trong những
hình thức vô thần hiện nay là mong giải phóng con người, nhất là về
phương diện kinh tế và xã hội. Hình thức vô thần này cho rằng tự
bản chất, tôn giáo làm cản trở công cuộc giải phóng đó, vì khi khơi
lên nơi con người niềm hy vọng vào cuộc sống vị lai và hão huyền, tôn
giáo đã làm cho họ xao lãng việc xây dựng xã hội trần thế này[7].
Nói cách khác, khoa học kỹ thuật, công nghệ mới là cứu cánh của con người. Do
đó, không lạ gì khi người ta càng phụ thuộc vào khoa học công nghệ, niềm tin
tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng, không tránh khỏi bị tác động.
Hai năm sau, Thông điệp “Phát triển các Dân tộc”
(Populorum Progressio -1967) cho thấy một mối nguy đang xảy ra vì sự
phát triển của công nghệ kỹ thuật: “nền văn minh cổ truyền và văn minh kỹ
nghệ mới đang đụng độ nhau, làm tan vỡ những cơ cấu không còn thích ứng với nhu
cầu của thời đại”[8].
Những ai hoặc quốc gia nào không thích nghi được với sự phát triển của công nghệ,
sẽ bị loại trừ hoặc bị bỏ lại đằng sau[9].
Khi đó, xung đột về xã hội và lợi ích sẽ xảy ra. Hậu quả của nó là phá vỡ hệ thống
trật tự của xã hội. Một trong những giải pháp của vấn đề này là: “hãy trở về
với mục đích của công nghệ là phục vụ con người, cả về phương diện vật chất lẫn
tinh thần”[10].
Trong Thông điệp này, thuật ngữ “tiến bộ,
phát triển” không có nghĩa là bỏ lại con người ở đằng sau. Thay vào đó,
phát triển bền vững và thực sự phải hướng đến một nền kinh tế và kỹ thuật hướng
về ích lợi con người để phục vụ. Trong đó, con người phải là chủ thể với tự do
và những quyền của nó. Sự phát triển này cũng phải phù hợp với bản tính mà Đấng
Tạo hóa tối cao đã ban cho, gồm có những khả năng và đòi hỏi mà mình tự đón nhận[11].
Để hướng đến con người, Giáo hội đề nghị mỗi quốc
gia, dựa vào luật pháp để tạo ra sự công bằng cho toàn dân. Trong hoàn cảnh này,
Giáo hội đã nhìn thấy hệ thống độc tài vốn nhờ vào sự phát triển của công nghệ.
Nhất là những năm trở lại đây, chúng ta thấy vô số người phụ thuộc, nô lệ vào
công nghệ. Lúc đó, những tập đoàn công nghệ xuyên quốc gia có thể lèo lái người
ta đi theo hướng của chúng. Điều này cần được nhận ra, hoặc đề cao cảnh giác. Bốn
năm sau, Tông thư “Bát Thập Niên”[12] (Octogesima
Adveniens - 1971), Đức Giáo hoàng Phaolô VI cũng nhắc lại điều quan trọng
này với giải pháp: “ Đang khi tiến bộ khoa học và kỹ thuật tiếp tục làm đảo lộn
những khung cảnh sống của con người, những cách thức để hiểu biết, lao động, hưởng
thụ và quan hệ luôn luôn tỏ lộ, trong những bối cảnh mới, một khát vọng kép
ngày càng mãnh liệt hơn trong quá trình thông tin và giáo dục của con người
phát triển: “đó là khát vọng về công bằng, khát vọng được tham gia; hai hình
thức của phẩm giá con người và của quyền tự do con người.”[13]
4. Nhân phẩm và công nghệ kỹ
thuật
Có lẽ một trong những Giáo hoàng quan tâm nhiều
đến nhân phẩm của con người là thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II. Chính trong
Thông điệp “Laborem Exercens”[14] (Lao
động của con người -1981), vốn nghi nhớ Thông điệp “Rerum Novarum” tròn
90 năm, Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói rất nhiều đến công nghệ. Ngài cho thấy
tương quan của công việc và kỹ thuật. Trong đó, công nghệ như là công cụ, và
con người phải là chủ thể. Giáo hội lặp lại rằng, dù lao động chân tay hoặc trí
óc, kể cả các máy móc hoặc robot, thì con người phải có vai trò chính trong quá
trình lao động này. Lý do là “người thực hiện lao động ấy là một nhân vị, một
chủ thể có ý thức và tự do, nghĩa là một chủ thể tự quyết định.”[15] Do
đó, không thể chạy theo công nghệ kỹ thuật mà đánh mất hoặc chà đạp lên nhân phẩm
của người khác.
Từ những thập kỷ 90, không ai nghi ngờ rằng
trong mọi lãnh vực đều thấy sự tham gia của công nghệ kỹ thuật. Trong hoàn cảnh
đó, Giáo hội thấy công nghệ có thể vừa là đồng minh, vừa là kẻ thù[16].
Là đồng minh khi công nghệ giúp cho con người sáng tạo, sản xuất ra nhiều của cải
vật chất để phục vụ cho cộng đồng. Tuy nhiên, nhiều khi công nghệ lại thay thế
sức lao động của con người, cướp đi nguồn sáng tạo (kể cả các nước đã phát triển).
Máy móc, công nghệ kỹ thuật nhiều khi được xem trọng, được tôn vinh hơn con người!
Trong tình cảnh “tôn thờ” công nghệ như thế, chắc chắn vấn đề đạo đức xã
hội và luân lý cũng bị xem thường. Để giải đáp cho vấn đề này, Giáo hội đề nghị
phải xem nhân phẩm con người là trên hết. Điều này thường đi ngược với chiêu
trò của các nhà tư bản vốn xem công nghệ như là giải pháp cho tất cả. Kết quả
là nhiều người bị gạt ra khỏi sự phát triển chung của nhân loại (thất nghiệp, bất
công xã hội, loại trừ, văn hóa vứt bỏ, v.v). Do đó, Giáo hội vẫn tiếp tục mời gọi
trở về với Thiên Chúa, ngay trong lao động, văn hóa và công nghệ.
5. Công nghệ đang tác động
đến môi trường sinh thái
Sau “Laborem
Exercens”, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nhìn thấy khoa học kỹ thuật như
là một thứ quyền lực chi phối đời sống của xã hội. Thực vậy, trong Thông điệp “Sollicitudo
Rei Socialis”[17]-1987),
Đức Giáo hoàng tiếp tục cho thấy những liên minh của hệ thống công nghiệp như
là “cơ cấu tội lỗi - structures of sin”, đang thống trị toàn cầu[18],
cả mức độ cá nhân lẫn quốc gia. Dấu vết của tội lỗi này không dễ để nhận ra! Đây
là một trong những dấu vết và Thông điệp này chỉ dẫn: “Nếu người ta xét một
số hình thức đế quốc hiện đại, dưới ánh sáng các tiêu chuẩn luân lý, người ta sẽ
khám phá ra rằng, đằng sau một số quyết định nào đó, bề ngoài như chỉ dựa trên
các lý do sinh kế hoặc chính trị, nhưng lại chứa đựng những hình thức thờ ngẫu
tượng thực sự. Chúng mang tên: tiền bạc, ý thức hệ, giai cấp, kỹ thuật học.”[19] Điều
này cũng đúng ở đây và bây giờ!
Hơn nữa trong Thông điệp “Centesimus
Annus”[20] (Bách
Chu Niên -1991), Đức Giáo hoàng cho thấy có một mối nguy hiểm chủ nghĩa thống
trị này: “Ðặc biệt trong thời đại của chúng ta có một hình thức làm chủ khác
quan trọng không kém đất đai, đó là việc làm chủ kiến thức, kỹ thuật và tài
năng. Tài sản của các nước kỹ nghệ căn cứ nhiều trên loại quyền sở hữu này hơn
là trên các tài nguyên thiên nhiên.”[21] Như
vậy, thay vì phục vụ con người, xây dựng hòa bình, những tiến bộ về khoa học và
kỹ thuật đã biến thành công cụ của chiến tranh. Ví dụ như chạy đua vũ trang là
điều đang xảy ra nơi các cường quốc. Như thế, mặt trái của công nghệ không chỉ
tác động xấu lên con người, nhưng còn ảnh hưởng đến chính hành tinh sống của
chúng ta.
Cùng tiếng nói với Thông điệp trên đây, Đức Giáo
hoàng Biển Đức XVI tiếp tục đề cao việc phát triển con người cách toàn diện,
nghĩa là dựa trên tình yêu trong chân lý (Thông điệp “Caritas in
Veritate” - Bác ái trong Chân lý[22]-2009).
Trong đó, Đức Giáo hoàng nhấn mạnh rằng, dù sự phát triển công nghệ hiện nay là
vượt bậc, có thể giúp cho sự phát triển của con người, nhưng “nếu chỉ phát
triển về mặt kinh tế và kỹ thuật thì không đủ.” Trong đó, vấn đề phát triển
công nghệ lúc này còn phải quan tâm đến môi trường sinh sống của con người. Vấn
đề lạm dụng công nghệ để tiêu thụ năng lượng, khai thác tài nguyên thiên nhiên
đã tác hại không chỉ đến các nước nghèo, nhưng còn làm cho môi trường ngày càng
ô nhiễm. Nền kinh tế duy lợi nhuận, và cậy vào sức mạnh của công nghệ, đang bào
mòn hệ sinh thái của nhiều nơi. Giáo hội gióng lên tiếng chuông: “hãy làm chủ
vận mạng của mình”, nghĩa là cùng nhau cộng tác và trách nhiệm với thiên
nhiên ở cả tầm mức quốc gia và quốc tế.
Để bảo vệ ngôi nhà chung của chúng ta, Giáo hội đề
nghị cá nhân và quốc gia phải thực hiện các chương trình hành động trong tình
yêu và chân lý. Giáo hội không sợ khuyến khích sự phát triển công nghệ kỹ thuật,
nhưng vấn đề làm sao trong sự phát triển đó cần góp phần bảo vệ môi trường, nuôi
dưỡng và sử dụng tài nguyên một cách hợp lý. Điều này đề nghị: “Các xã hội
trên đường phát triển phải trung thành với những gì thật nhân bản trong truyền
thống của họ, tránh cơn cám dỗ tôn sùng chủ thuyết cơ giới của nền văn minh kỹ
thuật toàn cầu.”[23] Theo
đó, công nghệ là sản phẩm sáng tạo của con người, là quà tặng của Thiên Chúa để
góp phần giúp con người tiếp tục sáng tạo thế giới theo ý định của Thiên Chúa.
“Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,31).
Những điều này một lần nữa được Đức Giáo hoàng Phanxicô trình bày chi tiết
trong Thông điệp Laudato si’-2015.
Tạm kết
Trước sự phát triển công nghệ kỹ thuật như vũ
bão hiện nay[24],
thiết tưởng Giáo hội có vai trò quan trọng để tham gia vào “cuộc chơi chung
này”. Bởi nơi đó, không chỉ là vấn đề kinh tế, kỹ thuật, xã hội, v.v. mà còn là
những hệ lụy liên quan đến luân lý, tác động trực tiếp đến hành vi đạo đức, tôn
giáo. Điều này thật dễ thấy nơi những thay đổi hành vi của người sử dụng công
nghệ (Internet chẳng hạn), nhất là nơi các bạn trẻ. Do đó, để đồng hành với con
cái mình, Giáo hội tiếp tục lắng nghe và đưa ra những hướng dẫn cụ thể liên
quan. Chẳng hạn:
“Sự phát triển cần đến các Kitô hữu biết giang
tay hướng về Thiên Chúa trong thái độ cầu nguyện; các Kitô hữu ý thức rằng bác
ái ngập tràn chân lý, từ đó xuất phát sự phát triển đích thực – không phải là
công trình của chúng ta, nhưng được Thiên Chúa ban tặng cho chúng ta. Vì thế,
ngay trong những thời điểm khó khăn nhất và hoàn cảnh phức tạp nhất, chúng ta
không những phải phản ứng cách ý thức, nhưng trước hết, phải gắn bó vào tình
yêu của Người. Sự phát triển đòi hỏi phải chú tâm đến đời sống tinh thần, quí
trọng những kinh nghiệm tin tưởng vào Thiên Chúa, tình huynh đệ trong Đức Kitô,
phó thác vào sự quan phòng và lòng nhân từ của Thiên Chúa, tình yêu và sự tha
thứ của Người, sự từ bỏ mình, đón nhận tha nhân, công bằng và hòa bình.”[25]
[1] Rerum Novarum số 8
[2]http://www.vatican.va/content/john-xxiii/en/encyclicals/documents/hf_j-xxiii_enc_11041963_pacem.html
[3] Gaudium et Spes số 1 và 2
[4] Gaudium et Spes số 3
[5] Pacem in Terris số 69
[6] Pacem in Terris số 82
[7] Gaudium et Spes Số 20
[8] Populorum Progressio Số 10
[9] Điều này rất dễ thấy trong những năm gần
đây cả trong lãnh vực kinh tế theo mô hình kỹ thuật số và kinh tế truyền thống,
xe ôm truyền thống và xe ôm công nghệ, bán hàng truyền thống hay Online, v..v
[10] Populorum
Progressio số 34
[11] Populorum
Progressio số 34
[12]http://huangiao.com/index.php/van-kien/duc-giao-hoang/tong-thu/item/1183-tong-thu-bat-thap-nien-octogesima-adveniens-cua-duc-giao-hoang-phaolo-vi-14-05-1971
[13] Octogesima
Adveniens số 20
[14]http://catechesis.net/thong-diep-laborem-exercens-lao-dong-cua-con-nguoi-cua-dgh-gioan-phaolo-ii-ngay-14-09-1981/
[15] Laborem
Exercens số 6.
[16] Xem
phần giới thiệu của Tông Huấn Laborem Exercens
[17]https://catechesis.net/thong-diep-sollicitudo-rei-socialis-quan-tam-den-van-de-xa-hoi-cua-dgh-gioan-phaolo-ii-ngay-30-12-1987/
[18] Sollicitudo
Rei Socialis số 37
[19] Sollicitudo
Rei Socialis số 37
[20] http://anthanhlinhgiang.blogspot.com/2011/04/thong-iep-centesimus-annus-e-bach-chu.html
[21] Centesimus
Annus 32
[22] http://www.simonhoadalat.com/HOCHOI/Giaohoi/ThongDiep/02CaritasInVeritate.htm
[23] Caritas
in Veritate 59
[24] Ngoài
Internet, công nghệ kỹ thuật còn lan rộng đến truyền thông xã hội, chuyển đổi
giới tính, chiến tranh công nghệ, sinh học, trí tuệ nhân tạo, thụ tinh trong ống
nghiệm, nghiên cứu phôi, khả năng tạo ra những nhân bản và phôi người, v.v.
[25] Caritas
in Veritate số 79
Nguồn: vaticannews.va/vi/