Sân chư dân. Ý tưởng và thể thức của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI

Vào chính lúc tòa án Italia xét đến các vấn đề liên quan đến Bộ phụ trách việc rao giảng Tin Mừng cho chư dân vào thời hồng y Crescenzio Sepe, một tổ chức mới, –khiêm tốn hơn– đang được chuẩn bị để ra đời tại Vatican. Tổ chức mới này sẽ quan tâm tới một hình thức khác của việc rao giảng Tin Mừng: không phải tại các vùng đất truyền giáo, mà ngay tại các nước đã từng là vùng Kitô giáo nhưng lòng tin đã yếu đi rất nhiều hay đã biến mất.

Đây không phải là một ý tưởng mới mẻ. Một văn phòng phụ trách người không có tín ngưỡng tôn giáo đã được hình thành sau Công đồng Vatican II. Thời đó, văn phòng này được giao cho hồng y Franz König, người Áo, phụ trách, nhưng chỉ tồn tại được mấy năm. Giờ đây, văn phòng này xuất hiện trở lại dưới hình thức vững chắc hơn của một Hội đồng Tòa Thánh. Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã trao đổi với một số hồng y: từ ĐHY Ruini đến ĐHY Scola, từ ĐHY Bagnasco đến ĐHY Schönborn. Một “motu proprio / tự sắc” sẽ định rõ dung mạo và phận sự của tổ chức này.

Một hành động cụ thể, cũng theo đuổi mục tiêu là đối thoại với những người không có lòng tin tôn giáo, đang được thiết lập bởi một hội đồng Tòa Thánh vốn đã vận hành từ lâu là Hội đồng Văn hóa do Đức tổng giám mục Gianfranco Ravasi chủ tọa.

Sáng kiến có tên gọi là “Sân chư dân”. Ý tưởng và thể thức là của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, được phổ biến ngày 21-12-2009 trong một bài diễn văn tại Giáo triều Roma nhân dịp lễ Giáng sinh. Ý tưởng của Đức giáo hoàng Joseph Ratzinger vốn xem vấn đề Thiên Chúa là “ưu tiên” của triều đại giáo hoàng của ngài là mở một cuộc đối thoại có hệ thống với những người ở xa Thiên Chúa nhất, để họ có thể tiến lại gần hơn với Ngài, ít là “như Đấng Vô Danh”.

Còn thể thức “Sân chư dân”, Đức giáo hoàng Bênêđictô đã lấy từ các sách Tin Mừng kể về việc Chúa Giêsu đuổi các con buôn khỏi Đền thờ.

Giờ đây, vào lúc tòa án Italia muốn quét sạch óc buôn bán của giáo triều Vatican cũ, người ta lại càng cảm thấy ấn tượng hơn khi đọc lại những gì Đức giáo hoàng đã nói hôm 21-12 vừa qua, để giải thích dự án của ngài:

“Tôi nhớ tới công thức của ngôn sứ Isaia Chúa Giêsu đã sử dụng, nghĩa là đền thờ phải là một nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc (cf. Is 56,7; Mc 11, 17). Ngài nghĩ tới nơi người ta gọi là ‘Sân chư dân’ ngài muốn tẩy trừ khỏi các vụ buôn bán do bên ngoài đem vào để có thể có chỗ cho những người không có lòng tin tôn giáo muốn tới đó cầu nguyện cùng Thiên Chúa độc nhất, cho dù họ không thể dự phần vào mầu nhiệm được cử hành bên trong đền thờ là nơi dành riêng cho việc cử hành này. Một nơi cầu nguyện cho chư dân, nghĩa là những người chỉ biết Thiên Chúa từ xa như người ta quen nói; những người chưa thỏa mãn với các thần linh, nghi lễ, các thần thoại của họ; những người ước ao Đấng Tinh Tuyền và Lớn lao, dù Thiên Chúa vẫn còn là ‘Thần Vô Danh’ đối với họ (cf. Cv 17, 23). Họ cần phải được cầu nguyện cùng ‘Thần Vô Danh’ và như vậy được ở trong quan hệ với Thiên Chúa đích thực cho dù giữa đủ mọi thứ tăm tối”.

Nhưng để có thể hiểu một cách sâu sắc hơn “Sân chư dân” là gì, thiết tưởng chúng ta cần tham khảo nhà Thánh Kinh học lỗi lạc và nổi tiếng thế giới là Đức Tổng giám mục Ravasi, người có những quan hệ cá nhân rất rộng rãi với các nhà hoạt động văn hóa ít nhiều xa cách với niềm tin tôn giáo.

Bài viết của Tổng giám mục Ravasi đã được đăng trên tờ “L'Osservatore Romano”, số đề ngày 2 tháng Sáu [được dịch dưới đây].

Đi vào cuộc đối thoại ở ‘Sân chư dân’. Cùng nhau chúng ta vượt qua sa mạc

Gianfranco Ravasi

“Tôi nghĩ rằng ngày nay Giáo Hội cần phải mở ra một thứ ‘Sân chư dân’ ở đó con người có thể như bám lấy Thiên Chúa, dù không biết Ngài và trước khi tìm ra đường vào mầu nhiệm của Ngài được cử hành với cuộc sống bên trong Giáo Hội. Cùng với cuộc đối thoại với các tôn giáo ngày nay, cần phải thêm, trước tiên, cuộc đối thoại với những người còn xa lạ với tôn giáo và Thiên Chúa còn là vị ‘Thần Vô Danh’ đối với họ, nhưng lại không muốn cứ là những kẻ không Thiên Chúa, trái lại muốn tiếp cận Ngài ít là với tư cách ‘Đấng Vô Danh’.

Những từ này vốn là của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI khi ngài nói lời chúc Giáng sinh và năm mới cho Giáo triều Roma, dẫu sao cũng có một kết quả cụ thể: một bộ phận tại Vatican là Hội đồng Tòa Thánh phụ trách văn hóa đã giới thiệu một tổ chức, được gọi là “Sân chư dân”, để mở một cuộc đối thoại nghiêm túc và kính cẩn giữa các tín hữu và những người theo thuyết bất khả tri hay người vô thần.

Tổ chức sẽ khai mạc tại Paris vào tháng 3-2011, tại nhiều nơi một lúc: tại Sorbonne, tại Unesco và tại Hàn lâm viện Pháp, với các nhãn giới khác nhau. Cần phải lưu ý ngay tới sự quan tâm của nhiều nhân vật, trong số này phải kể tới Julia Kristeva, nhà dấu hiệu học, phân tâm học và nhà văn.

Trước tiên, chúng tôi muốn giải thích biểu tượng Đức giáo hoàng sử dụng. Đây là một kiểu nói có thể là không mấy rõ ràng đối với mọi người, cho dù nhiều người đã biết là từ ‘chư dân / dân ngoại’ trong ngôn ngữ Giáo Hội chỉ những người không phải là Do Thái, nói cách khác, các người ngoại đã gia nhập Kitô giáo: từ này có gốc latinh ‘gens’, có nghĩa là quốc tịch ngoại quốc, đối nghịch với ‘populus romanus / dân Roma’ (tiếng Hipri là các người ‘goyim/goy’, xuất hiện cả thảy 561 lần trong Cựu Ước; tiếng Hy Lạp, ‘ethnos/ethnè’, một từ xuất hiện 162 lần trong Tân Ước). Mọi người đều biết thánh Phaolô đã phải chiến đấu như thế nào để mở cửa niềm tin mới cho những người này, mà không bắt buộc họ phải chịu phép cắt bì trước và qua đó, phải được Do Thái hóa, như một số vị lãnh đạo cộng đồng Kitô hữu tiên khởi (các người Kitô hữu gốc Do Thái) đòi hỏi. Nhưng ‘Sân chư dân’ gợi lên thực tại nào?

Về vấn đề này, chúng ta phải trở lại với mô hình của đền thờ Giêrusalem và đặc biệt với hình thể của kiến trúc đồ sộ theo ý định của vua Hêrôđê từ năm 20 trước Chúa Giêsu và đã bị quân Roma dưới quyền Titus phá hủy vào năm 70 sau Chúa Giêsu.

Ở đây, ngoài những nơi dành cho phụ nữ, cho người Do Thái, cho tư tế và đền thánh theo đúng nghĩa, còn có một nơi người không phải Do Thái có thể tới khi họ tới thăm Giêrusalem. Nơi này là ‘Sân chư dân’, một ‘aulè’ trong tiếng Hy Lạp. Có thể sách Khải Huyền đã ám chỉ tới nơi này khi nói rằng Gioan, có nhiệm vụ thực hiện việc đo đạc có tính biểu tượng kích thước của đền thờ, nhận được chỉ thị sau đây: ‘Còn tiền đình bên ngoài (aulè) thì hãy thải bỏ ra ngoài đừng đo, vì đã phó mặc nó cho dân ngoại (ethnè): và họ sẽ chà đạp thành thánh” (11,2).

Bằng chứng cụ thể về sự hiện hữu của nơi riêng biệt này là một tấm bia 60x90cm, có khắc mấy chữ bằng tiếng Hy Lạp. Bia này được nhà khảo cổ học người Pháp Charles-Simon Clermont-Ganneau tìm thấy vào năm 1871 và hiện đang được để ở bảo tàng viện khảo cổ học Istanbul (một tấm bia khác tương tự, nhưng chỉ còn lại một miếng, được tìm thấy vào năm 1953). Trên bia có ghi một lời cảnh báo theo kiểu ngày nay “nguy hiểm chết người” hoặc “vùng quân sự” cấm vượt qua: “Cấm không cho người ngoại (alloghenès) vượt qua lan can và vòng đai bao quanh khu vực thánh (hieròn). Kẻ bị bắt quả tang vi phạm sẽ tự mình chuốc lấy cái chết”.

Sử gia người Do Thái trước thời Roma, Flavius Josèphe, chứng nhân của các biến cố xảy ra trên Thánh địa vào thế kỷ thứ nhất, khẳng định chứng tích này trong tác phẩm ‘Các công trình cổ của Do Thái’ của ông, trong đó, ông nói đến hai sân: sân thứ nhất là sân chư dân, tách biệt với sân thứ hai –sân người Do Thái– “bởi mấy bực thang và bởi một lan can bằng đá có ghi lệnh cấm người ngoại vượt qua. Người vi phạm sẽ bị án tử hình” (XV, 417).

Trong một tác phẩm khác nổi tiếng hơn, “Cuộc chiến của người Do Thái”, sử gia này ghi nhận: “Khi vượt qua khu này để tới sân thứ hai, người ta thấy xung quanh mình có một cái lan can bằng đá, cao 1,50m, được làm rất công phu. Có các tấm bia được dựng theo khoảng cách đều nhau, cái ghi bằng tiếng Hy Lạp, cái ghi bằng tiếng latinh, các luật lệ về thanh sạch phải giữ đề được vào đền thờ – cốt để không một người ngoại nào có thể vào được nơi thánh’ (V, 193-194).

Điều lạ là theo những gì có thể suy ra từ lệnh cấm, án tử hình diễn ra một cách tự động mà không cần có tòa án xét xử và bởi một thứ hành hình lập tức do quần chúng Do Thái tự động thi hành. Sự kiện này xem ra được gợi lại trong vụ thánh Phaolô gặp nguy hiểm tại đền thờ Giêrusalem: đám đông các tín đồ tính giết ngài bởi vì họ nghi ngờ ngài đã “đưa cả người Hy Lạp vào Đền thờ, và đã làm cho nơi thánh này ra uế tục”. Là bởi vì, trước đó không lâu, người ta đã thấy Phaolô đi cùng một người dân ngoại, một người Trophimô nào đó ở Êphêsô, do đó đã bị nghi ngờ là đã đưa người này vượt qua “Sân chư dân”, vào vùng cấm người ngoại vào (đọc Cv 21, 27-32).

Dù thế nào thì cũng chính vị tông đồ này sẽ giáng một đòn mạnh vào quan niệm nặng màu sắc phân biệt khi, trong thư gửi tín hữu Êphêsô, ngài tuyên bố Đức Kitô đã đến “triệt hạ tường ngăn thành chắn” người Do Thái với chư dân, “để tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới, đem lại bình an và giảng hòa hai dân trong một Thân mình với Thiên Chúa” (Ep 2, 14-16). Biểu tượng của sự kỳ thị và ngăn cách thánh thiêng là bức tường ngăn “Sân chư dân” này, như vậy, đã bị Đức Kitô, Đấng muốn loại bỏ mọi rào chắn để tạo sự gặp gỡ hài hòa giữa hai dân, triệt hạ rồi.

Chính sự nhấn mạnh này của thánh Phaolô đã tạo nên ý nghĩa cho việc áp dụng mang tính cách ẩn dụ “Sân chư dân” được Đức Bênêđictô XVI nói đến. Người có tín ngưỡng và người không có tín ngưỡng ở tại các khu vực khác nhau, nhưng không thể giam mình trong một thứ chủ nghĩa biệt lập mang tính cách tôn giáo hay thế tục, cũng không thể không biết tới nhau hay, tệ hơn nữa, còn chế diễu và tố cáo nhau, như những người bảo thủ ở cả hai bên chủ trương. Dĩ nhiên, không thể cào bằng các khác biệt, cởi bỏ các khái niệm, phủ nhận các sự bất đồng. Mỗi bên ở trong một “sân” khác biệt, nhưng ý nghĩ và ngôn từ, các hành động và chọn lựa có thể được đối chiếu, thậm chí gặp gỡ nhau. […]

Theo một cách nói nào đó, thì dự án thành lập “Sân chư dân” có thể được ví như một “duo” [bài ca hai bè] trong đó các bè có thể nghịch nhau về mặt âm thanh, như một bè trầm và một bè bổng, tuy nhiên, vẫn có thể tạo nên được sự hòa hợp mà vẫn giữ nguyên căn tính của mình, nghĩa là không biến âm để trở thành một thứ chủ nghĩa hỗn tạp về ý thức hệ nào đó.

Trong sự gặp gỡ giữa hai “sân”, cần phải có sự thanh tẩy trước hai khái niệm căn bản. Một mặt, “chư dân / dân ngoại” phải tìm thấy lại sự cao quý của tư tưởng như được diễn tả qua các hệ thống vô thần (chúng ta nghĩ tới Marx hay dụ ngôn nổi tiếng về cái chết của Thiên Chúa trong một tác phẩm của Nietzsche) trước khi các hệ thống này bị cầm hãm trong những hệ thống chính trị-ý thức hệ, hay rơi vào chủ nghĩa hoài nghi và trong sự tôn thờ sự vật hay biến thành thứ chủ nghĩa vô thần miệt thị, mỉa mai cay độc hay báng bổ một cách ấu trĩ.

Mặt khác, đức tin cũng phải tìm thấy lại sự cao quý của mình, được diễn tả bởi nhiều thế kỷ của suy tư thâm thúy và bởi một quan niệm hoàn chỉnh về bản thể và hiện hữu, tránh các pha trộn chủ nghĩa sùng đạo hay chủ nghĩa duy căn và cho thấy thần học có một quy chế riêng, nghiêm túc, về khoa học luận song song với quy chế của các khoa học: chúng ta nghĩ tới “lý thuyết hai cấp độ” độc lập và không xung khắc nhau do Stephen Gould chủ trương và được Francisco Ayala, lấy lại và cả hai đều là các nhà tư tưởng và bác học.

Nhưng hơn thế nữa, sự gặp gỡ giữa các bè hát khác nhau có thể diễn ra xung quanh những vấn đề chung –cho dù các vấn đề này được triển khai và giải quyết với những kết quả không đồng nhất– như nền đạo đức, nhân học, tính tinh thần, các vấn đề về sự sống và cái chết, thiện và ác, tình yêu và đau khổ, chân lý và dối trá, hòa bình và thiên nhiên, sự siêu việt và tính nội tại.

Bằng con đường này, chúng ta có thể đi đến cùng tận vấn đề về Đấng Vô Danh, “Àgnostos Thèos”, vị Thần Vô Danh được thánh Phaolô ám chỉ đến trong bài diễn văn nổi tiếng của ngài tại Đồi Arêôpagô ở Athêna, được nhắc đến trong bài diễn văn của Đức Bênêđictô XVI chúng tôi đã trích dẫn khi mở đầu bài viết này.

Thực vậy, cũng như đôi khi người tín hữu có thể đi vào “Sân chư dân”, dưới một bầu trời không có sự hiện hữu và bóng dáng của Thiên Chúa và có thể chờ đợi thần thánh chấm dứt sự thinh lặng và vắng mặt của mình, cũng vậy, đôi khi người vô thần cũng có thể thốt lên một câu khẩn nguyện cùng với nhà thơ Giorgio Caproni: “Ôi, thần linh, Thiên Chúa của tôi. Tại sao Ngài lại không hiện hữu?”. Câu hỏi được Zinoviev, tác giả Nga của “Các chiều cao rộng mở”, triển khai như sau: “Tôi van Ngài, lạy Chúa tôi, hãy thử hiện hữu cho tôi, dù chỉ chốc lát, xin Ngài hãy mở mắt ra, tôi van Ngài!... Xin Ngài hãy cố gắng nhìn xem: sống không chứng nhân là một hỏa ngục đối với chúng tôi! Bởi vậy mà tôi kêu gào, la hét: Lạy Cha, con van xin Ngài trong nước mắt: xin hãy hiện hữu!”

Không chờ đợi có sự trở lại hay những sự trở mặt có tính cách hiện sinh, tránh những kiểu đánh lạc mục tiêu trong khoảng không, trong sự tầm thường, trong những khuôn sáo, chư dân và kitô hữu, vốn đang ở trong những “sân” nằm kề nhau trong đô thị hiện đại, có thể khám phá ra những thuận âm và những hòa âm ngay cả trong sự khác biệt; họ có thể loại bỏ những kiểu nói chỉ quy chiếu về mình và dẫn đến một tình nhân loại quá nhiều khi chỉ chúi mũi vào cái hiện tại, cái trước mắt, cái bề mặt, cái vô nghĩa, để hướng mắt tới Đấng trong sự viên mãn của Ngài. Một trong những “Bài ca cùng tận” của cha David Maria Turoldo xem ra đã diễn tả điều này: “Người anh em vô thần, với tư tưởng cao quý, / trong tìm kiếm một Thiên Chúa / mà tôi chẳng thể dâng tặng,/ hãy cùng nhau chúng ta băng qua sa mạc./ Hết sa mạc đến sa mạc, chúng ta vượt qua khu rừng của các tín ngưỡng, /tự do và mình trần đến với Đấng không lớp phủ ngoài / và ở đó, nơi ngôn ngữ không còn / chính là nơi kết thúc cuộc hành trình của chúng ta”.

 Sandro Magister

Nguồn: ESM, 25-6-2010