Khi
người ta không biết rõ lịch sử
WHĐ (3.09.2009) / E.S.M. – Giáo hội trong
vùng Abruzzes hàng năm mừng kỷ niệm việc Đức Giáo hoàng Celestino V chấp nhận vùng
đất này trở thành đất hành hương sám hối để được ơn tha thứ, gọi là “la Perdonanza”, tiếng Italia. Năm nay,
sau vụ động đất dữ dội xảy ra tại Abruzzes, việc kỷ niệm la Perdonanza này đã được mừng một cách đặc biệt trọng thể với sự
có mặt của Đức Hồng y Quốc vụ khanh, đại diện cho Đức Thánh cha Bênêđictô XVI.
“Trong Giáo hội thời cổ, sám hối là việc làm
có tính cách nghiêm túc, liên quan đến các tội như giết người, bội giáo, ngoại
tình và được cử hành dưới hình thức công cộng”. Một bài báo của Vito Mancuso trên
tờ nhật báo tiếng Italia “La Republica”
đã mở đầu như vậy. Bài báo, thoạt nhìn, người ta đã thấy ngay là khá hời hợt về
mặt lịch sử: nói rõ hơn, cái thứ hiểu biết nhà thần học sử dụng để tấn công
Hồng y Quốc vụ khanh nhân một cuộc gặp gỡ có thể đã diễn ra vào một dịp mang tính
cách thể chế rõ rệt. Mancuso hẳn phải hiểu rằng trong Giáo hội hiện nay cũng
vậy, sự sám hối là điều nghiêm túc, đến độ không được lẫn lộn với những thứ bút
chiến tùy tiện như báo chí thường sử dụng.
Do đó, Giáo hội tại Abruzzes hàng năm cử
hành việc kỷ niệm “la Perdonanza”, do
Đức giáo hoàng Celestinô V ban cho dân trong vùng của ngài, vừa vì lòng bác ái
tinh thần vừa để giúp dân về mặt kinh tế: dịp “la Perdonanza” – cũng như cuộc hành hương được cử hành ngày 2-08
tại Assidi – lôi kéo khách hành hương và những kẻ sám hối tới những nơi bình
thường không mấy có người lui tới, đem lại cho người dân tại chỗ một chút lợi
nhuận. Bởi vì Đức Celestinô cũng vậy, được các người đương thời xem như là sự
hiện thân của papa angelicus [giáo
hoàng thiên thần], biết rằng bên cạnh những sự giúp đỡ tinh thần, sự trợ giúp
về mặt vật chất cũng không thể thiếu để giúp đỡ những người dân quá nghèo khổ.
Và chính vì coi trọng việc sám hối, Giáo hội đã cử hành Năm thánh, cách đây
chín năm, và không ngừng nhấn mạnh rằng việc hành hương nhất thiết phải kèm
theo sự sám hối, xưng tội và thay đổi lối sống. Và năm nay, sau những vụ đụng
đất dữ dội xảy ra tại Abruzzes, việc kỷ niệm “la Perdonanza” được phép cử hành một cách đặc biệt trọng thể với sự
hiện diện của Đức Hồng y Quốc vụ khanh thay mặt Đức Thánh cha Bênêđictô XVI là
điều có thể hiểu được.
Trong việc gợi lại lịch sử một cách khiếm
khuyết của bí tích sám hối, Mancuso xem ra đã quên rằng từ thế kỷ XIII, việc
xưng tội đã mang tính cách riêng tư, trong tòa giải tội, nghĩa là diễn ra giữa kẻ
sám hối với người giải tội, và một cách kín đáo, như việc sám hối vậy. Một hình
thức chắc chắn đã tạo thuận lợi cho sự hối cải của nhiều người tội lỗi, nhưng, –như
nhiều sử gia đã nhìn nhận – đã trở thành cơ sở cho sự ra đời của chủ nghĩa cá
nhân trong nền văn minh phương Tây. Nhưng, dĩ nhiên, hình thức kín đáo này
không làm hài lòng mọi người: một số người chờ đợi một Giáo hội luôn sẵn sàng
lên án một cách công khai thay vì cúi xuống để chăm sóc từng lương tâm con
người. Ít là trong một số trường hợp riêng rẽ, bởi vì nhìn chung, việc Giáo hội
bày tỏ công khai thái độ đối với các hành động tính dục đã bị phê phán một cách
mạnh mẽ, bởi vì bị xem như là những sự can thiệp không hợp pháp. Nói cách khác,
người ta chờ đợi ở Giáo hội một điều gì ngược lại với một thái độ luân lý: việc
lên án người phạm tội chứ không phải lên án cái tội đã phạm. Nhưng đó sẽ là một
chứng cứ của chủ nghĩa chối bỏ hoàn toàn mọi bậc thang giá trị và của việc can
thiệp có tính cách bè phái trong các vấn đề chính trị không quan trọng: đó
chính là điều Đức Thánh cha Bênêđictô và Đức Hồng y Bertone cố gắng tránh.
Chủ nghĩa duy luân lý kế đó đã dẫn Mancuso tới một sự so sánh khủng khiếp giữa thái độ của Gioan Tẩy giả với Hêrôđê Antipas và bữa ăn giả thiết giữa Hồng y quốc vụ khanh và Thủ tướng Italia. Một lần nữa, Mancuso xem ra không biết rằng Gioan Tẩy giả đã bị Hêrôđê cầm tù vì việc giảng dạy có tính cách lật đổ của ngài, ngoài ra vì những sự khiển trách đối với đời tư của ông, nhưng nhất là tác giả muốn đặt tính ngôn sứ và thể chế ở thế đối chọi nhau hoàn toàn. Thực vậy, theo tác giả, Giáo hội phải từ bỏ cái nền tảng thể chế này vốn, cùng với chiều kích ngôn sứ, đã là nét đặc trưng của Giáo hội trong lịch sử của mình. Nhưng Giáo hội, cũng sống trong thế gian, lại đặt lên hàng đầu lòng bác ái và sự cứu rỗi các linh hồn.
(Theo E.S.M.)