Một trong những vấn đề chưa được giải quyết trọn vẹn trong Giáo hội chính là vai trò của người giáo dân. Người ta thường nói nhiều đến giáo dân, nhưng lại có quá ít nơi thực sự quan tâm một cách nghiêm túc đến việc này.

Trong nhiều thế kỷ, giáo dân đã bị coi như hạng “thứ yếu,” chỉ phục vụ cho hàng giáo sĩ. Một trong những nguyên nhân cơ cấu tạo ra sự bất bình đẳng trong Giáo hội, và cho đến nay vẫn còn tồn tại, chính là sự khác biệt giữa việc đào tạo giáo dân và đào tạo giáo sĩ. Chúng ta đều biết: việc huấn luyện, nếu được đặt phục vụ cho những người bé nhỏ, thì trở thành yếu tố giải phóng; nhưng cũng có thể trở thành công cụ áp bức để thống trị những ai “không biết.” Điều này vẫn hiển nhiên nơi các dân tộc đang phát triển, khi sự thiếu hiểu biết bị lợi dụng để tước đi khả năng quyết định của người dân.

Trong lịch sử Giáo hội, những cơ chế ấy cũng đã vận hành và vẫn còn tiếp diễn nơi giáo dân. Bởi vì giáo dân “không biết, chưa được huấn luyện”, nên hàng giáo sĩ tự cho mình quyền đảm nhận mọi trách nhiệm và quyết định cả những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của giáo dân (gia đình, công việc, kinh tế, v.v.).

Cho đến gần đây, sứ mạng ad gentes (loan báo Tin Mừng cho muôn dân) cũng chỉ dành riêng cho một thành phần trong Giáo hội: các tu sĩ, linh mục và giám mục. Khi ơn gọi truyền giáo của giáo dân bắt đầu được thức tỉnh, họ đã gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của nạn giáo sĩ trị quá nặng trong Giáo hội Công giáo. Đối lập với quan niệm “độc quyền sứ vụ” của giáo sĩ, giáo dân đã khẳng định vị trí của mình trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Họ không coi đây là một sự “nhường chỗ” từ các “chuyên gia truyền giáo Ad Gentes” truyền thống, nhưng nhận ra rằng ơn gọi truyền giáo chính là quyền lợi và bổn phận phát xuất từ căn tính Kitô hữu của mình.

Để những xác quyết này có giá trị thực sự, nhà truyền giáo giáo dân ngày càng ý thức rằng, nếu muốn công việc truyền giáo của mình được nhìn nhận như một ơn gọi đích thực – ngang hàng với các ơn gọi khác trong Giáo hội – thì họ cũng phải tự đào luyện một cách nghiêm túc. Nếu một tu sĩ hay một linh mục phải trải qua nhiều năm đào tạo đặc thù trước khi được sai đi truyền giáo, thì người giáo dân cũng không thể qua loa vội vã, nhưng cần gác lại sự nôn nóng để thật sự chuẩn bị hầu phục vụ tốt nhất cho cộng đoàn được sai đến.

Sự trưởng thành của bất kỳ nhóm giáo dân nào, cũng như căn tính ơn gọi của họ trong Dân Thiên Chúa, đều tùy thuộc vào nền tảng đào tạo mà họ đã lãnh nhận.

Những mục tiêu đào tạo dành cho nhà truyền giáo giáo dân

Chúng ta xác quyết rằng việc đào tạo không thể chỉ thu gọn vào kiến thức học thuật hay thần học. Điều này thật cần thiết – như Ủy ban Giám mục về Truyền giáo và Hợp tác giữa các Giáo hội (của Hội đồng Giám mục Tây Ban Nha) đã nêu trong văn kiện “Nhà Truyền giáo Giáo dân – (Laicos Misioneros - LM)” (1996), khi nhấn mạnh đến việc học hỏi về thần học truyền giáo, nhân học, giáo hội học, phương pháp hội nhập văn hóa, phân tích thế giới hôm nay, những đường hướng hợp tác chung… (số 9.4). Tuy nhiên, việc đào tạo của giáo dân còn mang một nhịp điệu riêng: kinh nghiệm sống đóng vai trò thiết yếu; và một đức tin trưởng thành, không ngừng lớn lên, biết đối diện với tha nhân và với thế giới, chính là chương trình đào tạo tốt nhất.

Những mục tiêu không thể thiếu trong tiến trình đào tạo nhà truyền giáo giáo dân gồm có:

1/ Phân định ơn gọi cụ thể

Việc đào tạo cần bảo đảm những yếu tố và phương thế cần thiết để một người trẻ hay một người trưởng thành có thể thực hiện sự phân định ơn gọi cách thực sự. Chỉ ước muốn thôi thì chưa đủ. Một người trở thành nhà truyền giáo là vì được Hội Thánh sai đi; do đó, cộng đoàn Giáo hội mà người ấy thuộc về phải có sự xác tín rằng ứng sinh này xứng hợp, và động lực của họ là trong sáng. Nói cách khác, việc phục vụ tha nhân phải là hoa trái phát xuất từ chính đức tin vào Đức Giêsu.

2/ Đảm nhận một căn tính

Việc khám phá ơn gọi truyền giáo đặc thù sẽ dẫn người trẻ hay người trưởng thành đến chỗ xây dựng một “phong cách” riêng biệt trong cách sống đức tin Kitô giáo của mình – trước hết là ở “đây”, rồi sau đó ở “kia”. Những nét đặc trưng của một ơn gọi cụ thể thường được hình thành trong một nhóm hay một cộng đoàn. Điều này có thể được dần dần xác định như một ý thức “thuộc về”, nhưng không phải theo nghĩa độc quyền hay tinh hoa để tách biệt khỏi người khác, mà là một yếu tố mang tính hiệp thông, giúp đồng hóa và gắn bó với tha nhân.

Chính vì thế, cần có thời gian và không gian, cũng như một nền đào tạo với nội dung và động lực đủ sức nâng đỡ và thúc đẩy sự chọn lựa đã được thực hiện, để nhờ đó mỗi người có thể xây dựng căn tính riêng của mình.

3/ Đào sâu đức tin và ơn gọi

Đức tin của nhà truyền giáo giáo dân sẽ mang một sắc thái riêng, một linh đạo đặc biệt, một cam kết Kitô hữu độc đáo, một lối sống hiện diện giữa đời… khi đức tin ấy được đóng ấn bởi sứ mạng ad gentes.

4/ Chuẩn bị chuyên biệt cho sứ vụ

Ở bình diện quốc gia, chúng ta có những trường đào tạo truyền giáo uy tín, như Học viện Thánh Piô X, cung cấp nền thần học truyền giáo cập nhật và các tiêu chuẩn cần thiết để đối thoại với tôn giáo trong bối cảnh ad gentes. Nhưng mỗi sứ vụ lại có đặc thù riêng: ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử quốc gia, sự hiện diện của Giáo hội tại đó, dự án truyền giáo cụ thể, lối sống… Tất cả những yếu tố này phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, nếu muốn thi hành sứ vụ không phải theo khuôn mẫu của riêng mình, mà thực sự bước vào thế giới của người được phục vụ.

5/ Đào tạo thường xuyên và suốt đời

Con người luôn ở trong tiến trình tăng trưởng và biến đổi. Vì vậy, nhà truyền giáo phải biết tiếp tục học hỏi, không chỉ trong thời gian thi hành sứ vụ, mà cả khi trở về quê hương. Đáng tiếc là nhiều khi việc tái hội nhập này còn thiếu những không gian và nội dung phù hợp để nâng đỡ hành trình đức tin và sứ mạng của họ.

Lộ trình đào tạo

Chúng ta đã nói: việc đào tạo các nhà truyền giáo giáo dân phải mang nhịp điệu riêng, phù hợp với hoàn cảnh sống của họ. Tuy nhiên, vẫn cần phải bảo đảm đây là một sự đào tạo toàn diện: thiêng liêng, luân lý, đồng thời cũng là khoa học và chuyên môn (x. LM 9.1).

Nhịp điệu này gắn liền với thực tế đời sống giáo dân: họ có thể sống bậc hôn nhân hay độc thân, có hay không có con cái, có việc làm hay không, v.v. Chính vì thế, tiến trình đào tạo phải được sắp xếp lâu dài và tiệm tiến (thường kéo dài từ 1–5 năm; đa số các tổ chức quy định trên 2 năm, và gần như luôn có giai đoạn sống cộng đoàn để chuẩn bị cho đời sống truyền giáo – LM 9.3).

Để việc đào tạo thực sự vững chắc và đem lại sự hiệp nhất nội tâm (không phải là đồng nhất nhưng là sự thống nhất trong khác biệt), cần tôn trọng nhịp độ của từng hành trình. Dù vậy, không thể bỏ qua ba yếu tố sau:

Đào tạo từ xa: không chỉ diễn ra khi chuẩn bị khởi hành, mà phải là một tiến trình thường xuyên trong đời sống Kitô hữu.

Đào tạo thường xuyên: gồm những chương trình tổng thể với các khóa học, các lần lượng giá, những dịp trao đổi và đối chiếu.

Đào tạo định hướng: bởi vì người giáo dân được sai đi chính là hiện thân của Giáo hội địa phương sai phái họ.

Sứ vụ là một thực tại phức tạp và sinh động (x. Evangelii Nuntiandi số 17), nơi nhiều chiều kích được kết hợp: loan báo trực tiếp Tin Mừng, giải phóng toàn diện, đối thoại liên tôn… Vì thế, việc đào tạo cũng phải mở ra với những cách thức khác nhau của công cuộc truyền giáo: có nơi mang đậm tính mục vụ giáo xứ, có nơi đòi hỏi sự dấn thân xã hội mạnh mẽ, có nơi thiên về những dự án phát triển trong đó chứng tá cá nhân có khi diễn ra bên ngoài cơ cấu thuần túy của Giáo hội.

Những điểm then chốt cần lưu ý trong tiến trình đào tạo này là:

Từ một dự phóng đời sống: ứng sinh được mời gọi định hướng toàn bộ đời mình theo mục tiêu truyền giáo. Trong dự phóng ấy phải có một đời sống đức tin và cầu nguyện mãnh liệt, được thể hiện bằng cam kết mục vụ cụ thể. Cam kết này, dù đôi khi trùng hợp với nghề nghiệp riêng, vẫn cần có kế hoạch rõ ràng và được lượng giá thường xuyên. Nó bao hàm việc dấn thân cho công cuộc khơi dậy tinh thần truyền giáo trong chính Giáo hội địa phương đã sinh ra đức tin của mình.

Khởi đi từ một cộng đoàn quy chiếu hay một cộng đoàn Giáo hội: nơi mà ứng sinh có thể sống tinh thần truyền giáo. Cộng đoàn là môi trường giáo dục lý tưởng, vừa là chỗ kiểm chứng sự trưởng thành, vừa là nơi lập kế hoạch, cầu nguyện, chia sẻ đời sống và đức tin. Các cuộc gặp gỡ cộng đoàn không thể chỉ mang tính ngẫu hứng, nhưng cần đều đặn, ít là mỗi tuần, cần có thời gian cùng nhau: cầu nguyện, suy tư, chia sẻ đời sống và đức tin, và thỉnh thoảng cùng nhau cử hành đức tin ấy. Cộng đoàn không chỉ là nơi nâng đỡ tình cảm, mà còn là môi trường để sửa dạy huynh đệ và trưởng thành bản thân.

Với sự đồng hành cá nhân và tập thể: ứng sinh cần được hướng dẫn theo nhiều chiều kích: tâm lý (qua các chuyên viên), thiêng liêng (qua linh hướng), gia đình… Đây là yếu tố không thể thay thế trong bất kỳ tiến trình đào tạo nào. Chúng ta nhận thấy không dễ tìm được những người có khả năng đồng hành đào tạo, nhất là giáo dân, nhưng khía cạnh này lại thiết yếu cho việc thẩm định và phát triển ơn gọi.

Có giai đoạn lượng giá: tiến trình đào tạo cần tiệm tiến và từng bước, và việc lượng giá sau mỗi giai đoạn là rất quan trọng. Việc lượng giá này nên được thực hiện ba chiều: do chính ứng sinh tự lượng giá, do cộng đoàn đồng hành với ứng sinh đưa ra nhận định, và do người linh hướng trực tiếp đưa ra đánh giá. Những kinh nghiệm không được lượng giá dễ trở thành vô ích.

Những mốc đào tạo này không chỉ dành cho giai đoạn chuẩn bị tại quê nhà, mà còn phải tiếp tục trong thời gian ở sứ vụ, cũng như khi trở về – vốn thường là giai đoạn khó khăn, thậm chí đau đớn, vì không phải lúc nào Giáo hội địa phương cũng rộng vòng tay đón nhận.

Đào tạo toàn diện

Ngày nay, hơn bao giờ hết, chỉ có thiện chí thôi thì chưa đủ để dấn thân vào hoạt động truyền giáo. Trong một thế giới ngày càng phức tạp, nhà truyền giáo cần được trang bị một nền đào tạo vững chắc về nhân bản, nghề nghiệp và Kitô giáo.

A. Định hướng cho sự trưởng thành nhân bản

Đối với một ứng sinh truyền giáo – bất kể là tu sĩ, linh mục hay giáo dân – đều cần đạt đến sự trưởng thành nhân bản vững vàng. Vì đời sống truyền giáo sẽ đưa họ đến những nơi và những hoàn cảnh đầy thử thách, nơi mà cấu trúc tâm lý và bản lĩnh cá nhân luôn bị thử thách gay gắt, và đòi hỏi một nhân cách mạnh mẽ, lành mạnh. Do đó, cần có sức khỏe tốt, cả thể lý lẫn tâm thần, để có thể đứng vững trong nghịch cảnh mà không gục ngã.

Khác với sức khỏe thể lý vốn dễ nhận ra, sức khỏe tâm lý lại khó lường hơn. Văn kiện Hội đồng Giám mục về Nhà Truyền giáo Giáo dân đã nhấn mạnh đến sự trưởng thành tâm lý – cảm xúc, được hiểu như: sự quân bình nhân cách, biết sống ơn gọi trong bậc sống của mình (độc thân hay hôn nhân), khả năng thích nghi, sáng tạo, làm việc nhóm, tinh thần tích cực, gương mặt bình an và vui tươi trước khó khăn, lòng ham học hỏi, khả năng đối thoại, biết trân trọng và hy sinh cho tha nhân… Đặc biệt, trong trường hợp gia đình truyền giáo, sự quân bình tình cảm giữa vợ chồng và với con cái càng là điều thiết yếu (LM 08.02).

Sứ vụ không bao giờ được coi như một sự trốn chạy khỏi thực tại cá nhân: công việc, gia đình, tình cảm… Người nghèo không thể trở thành đối tượng để ta thử nghiệm nhu cầu thoả mãn bản thân. Do đó, phải biết đón nhận sự trợ giúp của khoa học nhân văn. Nhiều nhóm giáo dân đã nhờ đến các chuyên viên tâm lý để khảo sát và kiểm chứng động lực của ứng sinh. Nhưng ngay cả một cộng đoàn trưởng thành cũng là môi trường đáng tin cậy giúp phân định.

Một số thái độ nhân bản thiết yếu đối với nhà truyền giáo giáo dân:

Khả năng đối thoại và cởi mở với tha nhân: Đó là thái độ nội tâm của trí tuệ và con tim, giúp ứng sinh có thể giao tiếp một cách rõ ràng, minh bạch và trở thành con người thật. Thêm vào đó là sự sẵn sàng được hướng dẫn và đồng hành; khả năng đối thoại, chung sống và làm việc với những người khác biệt về tính cách, đức tin, văn hóa và quốc tịch.

Tinh thần cộng tác và làm việc nhóm: Đây là yếu tố sư phạm không thể thay thế để tránh chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Sứ vụ là hoa trái của đời sống và việc làm chung; chính cộng đoàn mới là chủ thể loan báo Tin Mừng.

Khả năng chịu trách nhiệm về đời mình và quyết định của mình: Ứng sinh cần biết đảm nhận đời sống và các quyết định của mình, cũng như có khả năng đưa ra những phản ứng cá nhân trước những thách đố trong sứ mạng.

Khả năng đối diện với những hoàn cảnh xa lạ hay xung đột: cần có một sự tự tin lành mạnh và lòng tự trọng sâu xa để đối diện.

Vượt qua mọi thái độ vị chủng (ethnocentrism): mở ra với tình huynh đệ phổ quát, biết trân trọng và hội nhập văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục của dân tộc mà mình phục vụ, với một cái nhìn tích cực nhưng thực tế.

Tính hiện thực lành mạnh: Gần như không thể tránh việc lý tưởng hóa người nghèo, môi trường sống của họ, Giáo hội, hay cả thần học về người nghèo. Nhưng khi sự lý tưởng hóa này va chạm với thực tế u tối của nghèo đói và tội lỗi, nguy cơ dễ nản chí và buông xuôi là rất lớn. Thái độ đúng đắn của người tin là chọn sống thực tại như nó vốn có, với cả ánh sáng và bóng tối.

Khả năng đón nhận thất bại và sự hụt hẫng: Đây là một yếu tố nhân bản, đồng thời cũng là yếu tố đức tin: biết chấp nhận phần thất bại vốn thuộc về tất cả mọi người, đặc biệt nơi những ai dám dấn thân nhiều hơn.

Không tạo ra sự lệ thuộc, không rơi vào thái độ gia trưởng hay tìm hào quang cá nhân: Người truyền giáo cần có khả năng tôn trọng tự do của những người mình phục vụ, không dùng họ để khỏa lấp cơn khát tình cảm, thành công hay sự công nhận của bản thân.

B. Định hướng cho sự trưởng thành Kitô hữu

Căn tính Kitô hữu của người giáo dân đã từng gây nhiều tranh luận. Nhưng sự thật căn bản vẫn là: căn tính ấy được đặt nền trên việc theo Đức Giêsu Kitô, chứ không chỉ nơi tính chuyên môn hay sự dấn thân xã hội (vốn là đặc điểm chung của nhiều ơn gọi khác).

Theo Đức Kitô nghĩa là bước vào một cam kết cá vị, mang tính giải thoát và cụ thể. Một số thái độ thiết yếu: gặp gỡ cá nhân với Chúa, đời sống cầu nguyện cá nhân và cộng đoàn, lắng nghe Lời Chúa, sống các bí tích, đọc ra ý nghĩa Kitô giáo của thực tại, và thực thi bác ái dưới mọi hình thức. Tất cả được quy tụ trong một dự phóng đời sống Kitô hữu. Đối với nhà truyền giáo giáo dân, những khía cạnh nổi bật là:

Trung tâm của sứ vụ: sứ vụ không phải là sáng kiến riêng, nhưng là hồng ân của Thiên Chúa. Chủ thể của sứ vụ là Ba Ngôi Thiên Chúa; Thánh Thần của Đức Kitô Phục Sinh là Đấng hướng dẫn, và mọi thành phần – giáo dân lẫn thừa tác viên thánh hiến – đều cộng tác với phẩm giá ngang nhau. Ý thức này giúp tránh khỏi cám dỗ chiếm hữu, cạnh tranh nhóm, hay nản lòng khi không thấy kết quả.

Tinh thần khổ chế: biết hy sinh, từ bỏ, chấp nhận đau khổ và thử thách, như một cách tham dự vào Thập Giá và sự Phục Sinh. Không có thái độ căn bản này thì khó có thể sống sứ vụ trong tinh thần nhưng không.

Linh đạo đặc thù của giáo dân truyền giáo: đời sống giản dị, gần gũi, gắn liền với lao động và gia đình, nhưng cũng mang đặc điểm của hành trình “lưu động” – sẵn sàng lên đường, sống tạm bợ, lắng nghe từ bên dưới, hiện diện ở những vùng biên. Đó là một linh đạo Vượt Qua: chết và sống lại, gieo niềm vui và hy vọng cho dân Chúa.

Ý thức về Giáo hội: Công đồng Vaticanô II nhấn mạnh rằng Hội Thánh là Dân Thiên Chúa và là sự hiệp thông, đồng thời cũng là Hội Thánh hiện hữu cho thế giới. Tuy nhiên, thực tế cho thấy lý thuyết này sau hơn 30 năm vẫn còn xa vời với đời sống cụ thể. Ở đây, giáo dân, đặc biệt là giáo dân truyền giáo, có thể đóng góp cách đặc biệt để trình bày một gương mặt mới của Hội Thánh phù hợp hơn với Thần Khí: một Hội Thánh thừa tác vụ, nơi mọi người đều tham gia (trong lập kế hoạch, quyết định, lượng giá) tùy theo ơn gọi của mình.

– Cần có một dấn thân rõ ràng trong Hội Thánh: Điều này không có nghĩa là mọi dấn thân đều phải diễn ra bên trong Giáo hội hay nơi Giáo xứ. Bởi chính ơn gọi, giáo dân truyền giáo được mời gọi hiện diện cách đặc biệt nơi những thực tại xa xôi đang cần được loan báo Tin Mừng (người di dân, những nhóm bị gạt ra bên lề, các phong trào xã hội, v.v.). Sứ mạng ad gentes khởi đi từ đây, từ dấn thân Kitô giáo mở ra với các chiều kích văn hóa mới trong xã hội.

Ứng viên truyền giáo giáo dân phải có ý thức mạnh mẽ về sự thuộc về Hội Thánh, nơi mình đã lớn lên trong đức tin và từ đó sẽ được sai đi. Vì vậy, chúng tôi đề nghị:

– Ứng viên cần được cộng đoàn Kitô hữu biết đến và công nhận là một ứng viên truyền giáo giáo dân, ngay cả khi họ thuộc về một nhóm, hội dòng truyền giáo hay một tổ chức nào đó.

– Tham gia tích cực vào đời sống cộng đoàn: phụng vụ, loan báo Tin Mừng…

– Nghi thức sai đi phải được cử hành bởi cộng đoàn, và được chính thức và công khai chuẩn nhận bởi giám mục hay các cơ cấu giáo phận.

– Các cơ cấu giáo phận phải tham gia cách thực chất trong việc sai đi, để giáo dân truyền giáo thực sự cảm nhận mình được sai đi như một người loan báo Tin Mừng. Sự tham gia này không thể chỉ mang tính hình thức, mà cần bao gồm cả khía cạnh vật chất và pháp lý (bảo hiểm y tế, chi phí di chuyển, an sinh xã hội…), cũng như khía cạnh cá nhân (hỗ trợ khi trở về, liên lạc trong thời gian thi hành sứ vụ, làm phong phú cộng đoàn gửi đi nhờ kinh nghiệm khi trở về…).

– Trong khi thi hành sứ mạng, giáo dân truyền giáo phải cố gắng sống ý thức về Hội Thánh, trong sự phục vụ cho một Giáo hội cụ thể, với tất cả ánh sáng và bóng tối của nó. Như thế, họ sẽ tránh được nguy cơ cá nhân chủ nghĩa hay hành động riêng rẽ. Người giáo dân truyền giáo cần được hội nhập vào chương trình và dự phóng mục vụ của giáo phận và giáo xứ, và nhờ đó được các tác nhân loan báo Tin Mừng khác nhìn nhận.

– Cần phải nuôi dưỡng ý thức về Hội Thánh này xuyên suốt các giai đoạn đào tạo, luôn biết trân trọng những phê bình mang tính xây dựng, đồng thời tránh những thái độ gây hấn có thể tạo ra chia rẽ hoặc gây bối rối cho chính những người mà ta được sai đến để phục vụ.

– Chỉ người nào biết chấp nhận thực tại tội lỗi và sự yếu hèn của bản thân mới có thể biểu lộ một đức tin trưởng thành, nhờ đó có khả năng sống hiệp thông trong Hội Thánh với tha nhân. Người ấy ý thức rằng chính trong thực tại bị tội lỗi làm hư hoại, ân sủng Thiên Chúa vẫn hoạt động để ban ơn cứu độ.

C. Định hướng cho sự trưởng thành trong ơn gọi truyền giáo

Trong tiến trình đào tạo, cần khắc ghi rằng: sứ vụ không thể bị coi như một “trải nghiệm thêm” trong đời, nhưng là một lời mời gọi từ Thiên Chúa, để phục vụ những người bé nhỏ và hiến dâng cả cuộc đời. Khi một ứng sinh đã xác định rõ ơn gọi truyền giáo, thì hành trình của họ trở nên tự nhiên và bền vững hơn.

Ơn gọi này phải được hiểu như một hồng ân thật sự của Thiên Chúa, phát sinh từ cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô, Đấng mời gọi họ bước vào một hành trình: theo Đức Kitô đến với những người nghèo nhất trên thế gian. Từ đó, họ nhận lấy một căn tính mới, vừa là môn đệ vừa là tông đồ.

Tuy nhiên, liên quan đến ơn gọi này vẫn còn những tranh luận rộng mở: đó là một dấn thân trong vài năm hay là ad vitam (trọn đời)? Vượt qua các mô hình cũ mang tính địa lý của truyền giáo, ngày nay ơn gọi truyền giáo giáo dân được hiểu như một chọn lựa lối sống, chứ không phải một kinh nghiệm nhất thời hay ngẫu hứng. Đó là một quyết định mang tính sống còn. Dù thời gian hiện diện tại một nơi chỉ từ ba đến sáu năm (dưới ba năm thường không thích hợp), thì quyết định ấy vẫn mang chiều kích nền tảng, biến đổi cả cuộc đời, và mở ra sự sẵn sàng lên đường thêm nhiều lần nữa.

Cách riêng, ơn gọi truyền giáo luôn mang một đặc tính cốt lõi: ra đi. Ra đi đến với những anh chị em đang cần, đến với những thực tại hoặc những dân tộc chưa được nghe Tin Mừng.

Việc chọn lựa ấy, sau cuộc gặp gỡ tận căn với Đức Kitô, thúc đẩy họ chia sẻ đức tin cho tha nhân. Đức tin ấy, như đã nói, phải được thể hiện bằng cam kết cụ thể, và luôn được đặt trong khung cảnh của Giáo hội (x. LM 8.2). Ơn gọi truyền giáo không bao giờ là hành động tự phát hay cá nhân đơn độc.

Một số điểm then chốt của sự trưởng thành trong ơn gọi:

a) Khởi đi từ căn tính giáo dân

Trên nền tảng một nền thần học Hội Thánh lành mạnh, ứng viên cần xác tín rõ ràng căn tính giáo dân, để không rơi vào tình trạng “giáo sĩ hóa thay thế” trong bối cảnh thiếu linh mục. Căn tính giáo dân rõ ràng không thể được xác định trong thế đối lập với hàng giáo sĩ, hoặc đơn giản chỉ như một hình thức thiện nguyện. Nó không thỏa đáng khi duy trì những định kiến cho rằng: giáo dân chỉ đảm trách những gì trần thế, còn linh mục và tu sĩ mới phụ trách những gì thiêng liêng. Thực tế, giáo dân được mời gọi tỏa sáng bằng chính đời sống của mình, làm chứng tá trong các thực tại xã hội, và đồng thời có thể trực tiếp tham gia vào việc dạy giáo lý hay loan báo Tin Mừng, mà không vì thế đánh mất hay phản bội căn tính giáo dân của mình. Điều quan trọng là sống ơn gọi từ trong chính các thừa tác vụ của Hội Thánh, nơi mà sự bổ túc lẫn nhau làm nên gương mặt mới của tình huynh đệ phổ quát – bắt đầu ngay từ trong lòng Hội Thánh.

Vì thế, cần nhấn mạnh rằng ngay từ những giai đoạn đào tạo đầu tiên, phải học biết làm việc chung: giữa linh mục, tu sĩ và giáo dân. Người giáo dân không chỉ chịu trách nhiệm về những cơ cấu thuộc về họ, mà còn cần tham gia thực sự vào các tiến trình ra quyết định, cũng như cộng tác trong các nhóm mục vụ khi được sai đi thi hành sứ vụ.

b) Khởi đi từ cộng đoàn

Người giáo dân vốn đã sống trong cộng đoàn tiên khởi là gia đình. Chính chứng tá nơi gia đình – trong đời sống hôn nhân và giáo dục con cái – là phần thiết yếu của căn tính giáo dân. Sứ vụ không bao giờ là chuyện cá nhân, nhưng là hành động của cộng đoàn và của Giáo hội (x. Evangelii Nuntiandi số 60). Do đó, cần duy trì sự liên hệ mật thiết với cộng đoàn gốc, đồng thời hội nhập thật sự vào cộng đoàn đích đến, để có sự trao đổi liên đới: cho và nhận.

Sự hiệp thông này còn diễn tả sự nhìn nhận rằng: mỗi Giáo hội địa phương đều được Chúa ban những hồng ân riêng để làm phong phú cho Giáo hội khác. Chính vì thế, khi đi truyền giáo, người giáo dân không chỉ cho đi mà còn được chính cộng đoàn đón nhận họ làm cho mình lớn lên (x. La misión ad gentes y la Iglesia en España, CEM, Madrid 2001).

c) Những mô hình tham gia khác nhau của giáo dân trong sứ vụ

Qua kinh nghiệm thực tế, có thể kể đến một số mô hình:

Mô hình mục vụ: kết hợp việc loan báo Tin Mừng với các hoạt động phát triển con người.

Mô hình trợ giúp: tập trung vào việc hỗ trợ khẩn cấp và cụ thể cho người dân, đôi khi thay thế cả các dịch vụ công cộng. Đây thường là những tình huống khẩn cấp và không thể kéo dài lâu.

Mô hình xã hội: hợp tác với những tổ chức ngoài Giáo hội, làm việc bên ngoài cơ cấu giáo hội chính thức.

Mô hình nghề nghiệp: phục vụ trong cơ quan công cộng hoặc tổ chức xã hội, với chứng tá từ đời sống nghề nghiệp.

Dù theo mô hình nào, có một số điểm căn bản không thể bỏ qua:

– Giúp người nghèo trở thành tác nhân của chính sự phát triển và ơn cứu độ của họ (Thánh Gioan Phaolô II, Javier).

– Dùng những phương thế đơn sơ, dễ tiếp nối, để công việc không bị gián đoạn.

– Tôn trọng công trình của những người đi trước, bảo đảm sự liên tục cho đến khi đạt mục tiêu. Do đó, không nên đặt tất cả trọng tâm nơi một cá nhân lãnh đạo.

– Chấp nhận nhịp độ của người dân, vốn thường chậm hơn dự kiến. Dù sao cũng phải tránh việc thúc ép hay cưỡng bách tiến trình. Chấp nhận nhịp độ của người dân chính là sống theo tinh thần của người mục tử: có lúc đi phía trước để dẫn dắt đoàn chiên, có lúc ở giữa để nâng đỡ, và phần lớn thời gian cần ở phía sau để khích lệ và đỡ nâng những người chậm bước nhất.

– Tránh mọi hình thức tư hữu hóa hay cá nhân chủ nghĩa trong việc loan báo Tin Mừng, ý thức rằng đây là một công việc mang tính tập thể, đòi hỏi sự đồng thuận và hiệp hành trong cộng đoàn.

– Hội nhập vào những kế hoạch rộng lớn hơn, chẳng hạn kế hoạch của giáo xứ, giáo phận hay tổ chức liên hệ.

D. Đào tạo chuyên môn

Như đã nói, nghề nghiệp không phải là trung tâm của ơn gọi truyền giáo giáo dân; trung tâm chính là đức tin nảy sinh từ cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giêsu Kitô và thôi thúc ta bước theo Người. Tuy nhiên, chúng ta cũng biết nghề nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong ơn gọi này. Mọi ngành nghề đều có chỗ đứng, miễn là đặt trong chiều kích loan báo Tin Mừng.

Một vài lưu ý:

Nghề nghiệp không phải là cứu cánh chính yếu

Nếu coi việc thực hiện nghề nghiệp là trọng tâm, thì sẽ dễ rơi vào chỗ biến người nghèo thành phương tiện cho bản thân. Với nhà truyền giáo, điều quan trọng không phải là “tôi mang đến điều gì”, nhưng là người dân đang cần gì. Chính sự sẵn sàng phục vụ và hiện diện mới phải được đặt lên hàng đầu.

Không phân cấp nghề nghiệp

Dĩ nhiên, những cộng đoàn đón tiếp mong muốn có những chuyên môn tốt nhất cho dân mình. Nhưng giá trị của sứ vụ không chỉ nằm ở kỹ năng. Một bác sĩ phẫu thuật có thể cứu sống nhiều người, nhưng sự hiện diện lặng lẽ của vợ ông, kiên trì nâng đỡ phụ nữ địa phương, cũng có giá trị không kém.

Đào tạo nghề nghiệp không phải là nội dung chính yếu trong các khóa đào tạo truyền giáo

Tuy nhiên, có những cộng đoàn mời gọi ứng sinh chọn nghề sau khi đã phân định, để có thể phục vụ sứ vụ cách hiệu quả. Khi đã biết rõ nơi sẽ được sai đến, ứng sinh cần bồi dưỡng thêm kiến thức và kỹ năng phù hợp với thực tế tại đó.

Hội nhập văn hóa là yếu tố quyết định

Để thực sự phục vụ người dân, tiến trình hội nhập cần được chuẩn bị từ xa: học ngôn ngữ, lịch sử, địa lý, tình hình xã hội – chính trị, kinh tế, tôn giáo, văn hóa, cũng như nhu cầu đặc thù của sứ vụ. Nhưng hội nhập không dừng lại ở lý thuyết; đó là một hành trình lâu dài, vượt xa cả việc học tiếng và nắm bắt văn hóa. Người truyền giáo không thể đến và ngày hôm sau đã bắt tay vào việc. Tôn trọng dân tộc mình phục vụ đòi hỏi phải nhìn thực tại bằng ánh mắt của chính họ, với sự kiên nhẫn và khiêm tốn.

Những thách đố trong việc đào tạo nhà truyền giáo giáo dân

Trong lãnh vực đào tạo, hành trình của các nhà truyền giáo giáo dân vẫn còn dài và nhiều khó khăn. Mỗi nhóm, mỗi tổ chức đều cố gắng tìm cách đáp ứng những thách đố ấy, dù vẫn ý thức còn nhiều hạn chế.

Ủy ban Giám mục Truyền giáo, trong văn kiện “Sứ mạng ad gentes và Giáo hội tại Tây Ban Nha”, đã đề nghị thành lập Hội đồng Truyền giáo Quốc gia, với hai nhiệm vụ chính:

– Sắp xếp, điều hành và thẩm định những hoạt động hợp tác truyền giáo ở tầm quốc gia.

– Phối hợp công việc và sáng kiến của các tổ chức truyền giáo khác nhau.

Văn kiện còn nhấn mạnh sự cần thiết phải:

– Đào sâu suy tư thần học về sứ mạng.

– Củng cố các ấn phẩm và trung tâm nghiên cứu về đào tạo truyền giáo.

– Đồng hành, hướng dẫn và phân định các tổ chức bác ái – phát triển, để đặt nền tảng vững chắc và tiến tới việc thành lập một Trung tâm Đào tạo, Hợp tác và Khơi dậy tinh thần truyền giáo.

Những nhiệm vụ của trung tâm này bao gồm:

– Huấn luyện các nhà cổ võ truyền giáo.

– Chuẩn bị các nhà truyền giáo tương lai, quan tâm đến cả chiều kích thiêng liêng, nhân bản, thần học và văn hóa.

– Hỗ trợ đào tạo thường xuyên và các khóa chuyên đề cho nhà truyền giáo.

– Thúc đẩy việc trao đổi kinh nghiệm mục vụ và suy tư thần học từ nhiều miền truyền giáo.

– Đồng hành việc tái hội nhập các nhà truyền giáo khi trở về, để cộng đoàn quê hương cũng được làm phong phú từ kinh nghiệm ấy.

– Đào sâu linh đạo truyền giáo.

– Chuẩn bị và tổ chức Đại hội Truyền giáo Toàn quốc, nhằm khơi dậy trách nhiệm truyền giáo của Giáo hội tại Tây Ban Nha, từ trong (ad intra) đến ngoài (ad extra).

Ngoài ra, văn kiện còn hoan nghênh sự hiện diện của giáo dân trong sứ vụ ad gentes và khuyến khích:

– Cộng tác với các giáo phận trong việc đào tạo và thăng tiến ơn gọi giáo dân truyền giáo.

– Chú ý đến việc đào tạo những người giáo dân chuẩn bị cho sứ vụ ad gentes.

– Tìm giải pháp cho những nhu cầu xã hội và kinh tế.

– Cập nhật thông tin về các nhóm và hội đoàn truyền giáo giáo dân.

– Thúc đẩy việc trao đổi kinh nghiệm liên quan đến đào tạo và ơn gọi truyền giáo của giáo dân, thông qua Ban điều phối toàn quốc.

Một thách đố khác: nhiều khi việc đào tạo giáo dân vẫn do hàng giáo sĩ đảm nhận, trong khi chính giáo dân cần dần dần lãnh lấy trách nhiệm này. Văn kiện “Nhà Truyền giáo Giáo dân” (LM 7.3) nhấn mạnh: nên trao việc tuyển chọn, đào tạo và đồng hành cho các hiệp hội giáo dân truyền giáo trưởng thành và kinh nghiệm, bởi họ am hiểu thực tế và đời sống sứ vụ. Điều này đòi hỏi phải đầu tư để chính giáo dân trở thành những nhà đào tạo.

Cuối cùng, một con đường hứa hẹn là đào tạo trong cộng đoàn, đặc biệt ở những giai đoạn nâng cao. Tại đó, người giáo dân học cách sống đức tin và ơn gọi ngay trong đời sống hằng ngày, biết đón nhận khác biệt, trách nhiệm, tôn trọng và bổ túc lẫn nhau. Chính nơi cộng đoàn, họ lớn lên trong tình huynh đệ, trong việc phục vụ, và trong niềm vui của Tin Mừng.

Granada, tháng 11 năm 2001

Tác giả: Jesús Ruiz Molina*

*Tác giả Jesus Ruiz Molina là một tu sĩ thừa sai Comboni, đồng thời là điều phối viên của chương trình Giáo dân Truyền giáo Comboni.

Chuyển ngữ: Thầy Phêrô Nguyễn Viết Bảo, FMS – Marist Brothers

Chuyển ngữ từ: lmcomboni.org

Trích Bản tin Hiệp Thông / HĐGMVNSố 151 (Tháng 01 & 02 năm 2026)

----------

Tham khảo:

Misiones Extranjeras, số 187, tháng 01–02/2002, tr. 29–42.