Hoa Kỳ: Tôn giáo và Nhà nước
WHĐ (30.09.2010) – Chuyến
công du Anh Quốc vừa qua của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, từ ngày 16 đến ngày
19-09-2010, được dư luận thế giới đánh giá thành công vượt mọi dự đoán.
Những thông điệp của ĐTC
phát đi từ Vương quốc Anh, qua các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc và trong những cử hành
Phụng vụ, đặc biệt lễ tôn phong chân phước cho Đức cố Hồng y John Henry Newman
(Anh), được đón nhận khắp thế giới với những phản ứng tích cực.
Thủ tướng Anh phát biểu: “Đức Giáo hoàng đã thực sự thách đố toàn thể đất
nước chúng tôi phải ngồi lại, suy nghĩ. Và như thế quả là một điều tốt đẹp cho
chúng tôi”.
Người công giáo tại Hoa Kỳ,
một quốc gia bên kia bờ Đại Tây Dương so với lục địa châu Âu, đã chăm chú theo
dõi chuyến công du của ĐTC, với tinh thần hiệp thông, lời cầu nguyện và chăm
chú lắng nghe những giáo huấn.
Tại nhà thờ chính tòa TGP
Seattle, vào chiều thứ Bảy 18-09 (giờ địa phương), cộng đoàn cử hành phụng vụ
Chúa nhật đã tôn vinh tân chân phước Newman bằng cuộc cung nghinh ảnh của chân
phước. Suốt thánh lễ, những vần thơ được phổ nhạc của Newman vang lên, tràn
ngập không gian cổ kính của ngôi nhà thờ chính tòa. Những thông điệp hơn trăm
năm trước của Newman được nhắc lại: đức tin Công giáo và Tông truyền, nền luân
lý đầy tính nhân văn của Kitô giáo và những ơn ích của chiêm niệm thần bí.
Tác giả Kathryn
Jean Lopez là biên tập viên của tạp chí National Review (Hoa Kỳ) đã thể hiện
những suy nghĩ của bà được gợi lên sau chuyến công du nói trên của ĐTC.
Bài viết
dưới đây của bà (do Đức Thành chuyển dịch) đã cho thấy một cái nhìn về mối quan
hệ giữa Giáo Hội và Nhà nước. Đây là một vấn đề mang tính lịch sử tại đất nước
Hoa Kỳ, nơi cổ võ mạnh mẽ tinh thần tự do và dân chủ.
Những
thông điệp của ĐTC, trong chuyến công du Anh Quốc, đã nhắc nhiều đến chủ nghĩa
tương đối và chủ nghĩa thế tục, những vấn đề không chỉ đặt ra cho Giáo Hội tại
châu Âu mà còn tại Hoa Kỳ, và rộng ra, khắp thế giới. Những thông điệp này gợi
lên nhiều suy tư cho Kathryn Jean Lopez qua bài viết (được chuyển dịch dưới
đây).
Nhan đề và
các tiểu đề do Đức Thành đặt.
* * *
Ý nghĩa chuyến công du Anh Quốc của Đức
Thánh Cha
“Đức tin là một bộ phận hợp
thành của đất nước chúng tôi. Đã và sẽ mãi mãi
như vậy. Như Đức Thánh Cha đã nói, đức tin không phải là một vấn đề đặt
ra cho các nhà lập pháp giải quyết mà chính là một phần quan trọng trong cuộc
đối thoại của dân tộc chúng tôi. Và chúng tôi tự hào về điều đó”.
Thủ tướng
Anh David Cameron phát biểu như trên trong bài diễn văn cảm ơn ĐTC Bênêđictô
XVI đã thực hiện chuyến viếng thăm nước Anh vừa qua. Trong bài diễn văn này,
Thủ tướng đã phát biểu không mang tính biện minh đối với nền văn hóa của chủ
nghĩa tương đối và chủ nghĩa thế tục. Ông nói: “Đức Giáo hoàng đã thực sự thách đố toàn thể đất nước chúng tôi phải ngồi lại,
suy nghĩ. Và như thế quả là một điều tốt đẹp cho chúng tôi”.
Thủ tướng Cameron bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với nội dung ĐTC đã từng
nhiều lần nói với châu Âu, vượt trên khung cảnh chính trị ồn ào huyên náo vốn
không mở cửa cho sự thật. Đó cũng là lời khuyên khiến chúng ta, quốc gia ở bờ
biển bên kia, cần phải chú ý.
Hoa Kỳ: câu chuyện về sự tách bạch giữa Tôn
giáo và Nhà nước
Năm mươi
năm trước, vào ngày 12-09-1960, trong bài diễn văn nổi tiếng tại Hội nghị Bộ
trưởng Greater Houston, bang
Đó là cách tiếp cận hoàn
toàn sai lầm về người Công giáo trong đời sống công cộng. Tất nhiên nguyên tắc
được Kennedy đưa ra là cả một câu chuyện dài, ngay cả các chính trị gia Công
giáo cũng thể hiện điều đó tại những cơ sở Công giáo, như hiện nay, việc bày tỏ
thái độ, mang tính chất hoàn toàn cá nhân, đối lập với cái ác trong khuôn viên trường
Đại học Notre Dame có lẽ là cách làm ít gây hậu quả nghiêm trọng nhất.
Đó chính
là lý do mà 50 năm sau, một chính trị gia Công giáo khác, cựu Thượng nghị sĩ
Rick Santorum thuộc bang Pennsylvania, vốn là ứng cử viên tổng thống thất cử, trong
bài phát biểu tại trường Đại học St Thomas (Houston), đã phản ứng lại Kennedy.
Ngay mở đầu bài diễn văn,
Santorum đã phê phán nguyên tắc do Kennedy đưa ra. Vào thời điểm có nhiều người Mỹ đang hăng hái đòi đổi mới Hiến pháp, thì
Santorum lại mô tả nguyên tắc Kennedy là không có cơ sở. Ông nói: “Ý tưởng về
sự tách bạch tuyệt đối giữa Giáo Hội và Nhà nước hiện không phải là và chưa bao
giờ là một mô hình của nước Mỹ. Đó là một mô hình được sử dụng ở các
nước như Pháp và gần đây là Thổ Nhĩ Kỳ. Mô hình này chỉ được một ít người ở Mỹ
ủng hộ, cho đến khi được Hugo Black, thẩm phán Tối cao pháp viện
Hoa kỳ, đưa ra trong cuộc tranh luận tại vụ án Everson kiện Hội đồng Giáo dục vào năm 1947”.
Ông cũng
thừa nhận: “Trong Hiến pháp không có cụm từ ‘tách bạch Giáo Hội với Nhà nước’,
thì ý niệm chính phủ đứng ngoài tôn giáo là chấp nhận được”. Mặc dù trong suốt
thời gian dài, ông là người phê phán chủ trương tách bạch Nhà nước và Giáo Hội,
và là một nghị sĩ, trong suốt nhiệm kì của mình tại Thượng viện, đã đứng đầu
trong việc đưa ra hàng loạt vấn đề, trong đó nổi bật nhất là về sự sống và hôn
nhân, nhưng dù vậy, ông Santorum cũng không phải là người chủ trương thần
quyền.
Ông
Santorum nói tiếp: “Tầm nhìn của các nhà lập quốc Hoa Kỳ không giống người Pháp.
Các nhà lập quốc dành cho mọi tín ngưỡng và mọi tín đồ, cũng như mọi người
không theo tôn giáo nào, một vị trí tại chiếc bàn đặt nơi công cộng.
“Đất nước chúng ta đã không
phải luôn luôn đạt đến lý tưởng đó - đặc biệt thái độ tôn trong đối với người
Do Thái và người Công giáo, đó lý do chính đáng khiến Kennedy đưa ra trong bài
diễn văn của mình. Nhưng những gì Kennedy ủng hộ có vẻ giống Ataturk hơn
Kennedy muốn làm giảm bớt
sự chú mục của người Tin Lành và những nhóm có liên quan khác đối với ông, một
người theo đạo Công giáo. Nhưng ông lại gây ra hậu quả lâu dài còn bi đát hơn. Theo
Santorum, Kennedy “đã tiến đến cái triết lí của sự tách bạch nghiêm ngặt giữa
Nhà nước và Giáo Hội. Triết lí này sẽ tạo ra một không gian xã hội thuần thế
tục, quét sạch mọi minh triết tôn giáo và dập tắt tiếng nói của các tín đồ
thuộc những tôn giáo khác nhau. Ông đã đặt nền
móng cho các cuộc tấn công vào quyền tự do tôn giáo và tự do ngôn luận. Đó là
cuộc tấn công của nhóm cánh tả phong trào tục hóa và các phe cánh chính trị như
ACLU hoặc phong trào Nhân dân ủng hộ lối sống Mỹ. Điều này đã và sẽ tiếp
tục tạo ra những bất đồng và chia rẽ tại đất nước này, khi mà tín đồ các tôn
giáo ngày càng cảm thấy mình chẳng khác gì những công dân hạng hai”.
Phát biểu của Santorum
không phải là đầu tiên và cũng sẽ không phải là cuối cùng phản ứng lại diễn văn
của Kennedy tại
Ngay cả trước khi phát biểu,
Romney đã bộc lộ một khuynh hướng rất khác và rất lành mạnh, hơn nữa lại trung
thành với thời lập quốc của chúng ta. Ông tuyên bố: “Tôi biết có một số người tin
rằng tôi chỉ đơn giản nói về Giáo hội của tôi tốt đẹp như thế nào. Thú thực tôi
không tin Giáo hội tôi tốt đẹp và cũng chẳng hết sức theo đuổi niềm tin ấy.
Điều đó sẽ không xảy ra. Tôi tự hào về đức tin của tôi. Tôi yêu mến đức tin của
tôi. Đó là niềm tin của ông bà cha mẹ tôi. Tôi
làm hết sức mình để sống theo những lời dạy của tiền nhân. Và ông bà cha mẹ đã
bằng mọi cách dạy tôi làm theo Hiến pháp, thực hiện các quy định của pháp luật
và ý thức về bổn phận đối với đất nước”.
Trong bài phát biểu cuối
cùng, ông nói: “Trong những năm gần đây, quan niệm tách Giáo Hội khỏi Nhà nước của
một số người đã vượt ra ngoài ý nghĩa nguyên thủy của nó. Họ tìm cách loại bỏ bất
kỳ sự thừa nhận nào về Thiên Chúa ra khỏi lĩnh vực công cộng. Tôn giáo được xem
là việc riêng của cá nhân, không có chỗ đứng trong đời sống công cộng. Dường
như họ đang có ý định lập ra một tôn giáo mới ở Mỹ. Đó là tôn giáo của chủ
nghĩa thế tục. Họ đã sai rồi”.
Người Công giáo tại Hoa Kỳ sống Đức Tin của mình: hài hòa
Đạo và Đời nhưng khởi đầu là sống mối tương giao với Chúa Giêsu
Đức Tổng giám mục Charles
Chaput của giáo phận Denver, một mục tử tốt lành, nổi tiếng về thái độ minh
bạch, cũng đã có bài phát biểu tại Houston về đức tin và đời sống dân sự. Vào tháng Ba vừa qua, tại Đại học Baptist ở
Đức Giáo hoàng Bênêđictô
XVI đã nêu lên một số lo ngại tương tự trong bài phát biểu của ngài tại Điện
ĐTC nói: “Dù muốn dù không
tôi vẫn phải nói lên mối lo ngại về sự gia tăng của thái độ loại trừ tôn giáo,
đặc biệt đối với Kitô giáo. Tình trạng này diễn ra ở một số khu vực, nhất là
tại các quốc gia vốn rất nhấn mạnh đến lòng khoan dung. Có người sẽ biện bạch: tôn
giáo vốn lặng lẽ, hoặc coi đó là việc riêng tư cá nhân. Có những người cho rằng,
không nên khuyến khích việc mừng các lễ hội công cộng như lễ Giáng sinh, vì cho
rằng, một cách nào đó, việc mừng lễ như vậy có thể xúc phạm đến những người của
các tôn giáo khác. Ngược lại, có người lại cho rằng các Kitô hữu phải thể hiện
vai trò trong xã hội vào những lúc như vậy, để hành động theo lương tâm của
mình. Đây là những dấu hiệu đáng lo ngại về sự thất bại trong nhận thức không
những về quyền được tự do lương tâm của các tín đồ và quyền tự do tôn giáo, mà
còn về vai trò hợp pháp của tôn giáo trong không gian công cộng. Do đó tôi kêu
gọi quý vị hãy vận dụng ảnh hưởng của mình mà tìm những phương thế cổ võ và
khuyến khích sự đối thoại giữa đức tin và lí trí trong mọi mức độ của đời sống quốc
gia… Tôi cũng muốn đưa ra đề nghị thế giới của lí trí và thế giới của đức tin,
thế giới của lí tính thế tục và thế giới của niềm tin tôn giáo, cả hai cần có
nhau và không nên sợ phải bước vào cuộc đối thoại không ngừng và có chiều sâu,
vì lợi ích nền văn minh của chúng ta”.
Đây là một thách đố đối với
mỗi người đàn ông và phụ nữ đang đánh liều bước vào chính trị hoặc những người
chẳng dính dáng gì đến chính trị, nói thẳng ra là mọi người công dân chúng ta.
Đức Tổng Giám mục Chaput
từng nói: “Đời sống người Kitô hữu được khởi sự bằng mối tương giao với Chúa
Giêsu Kitô, nhờ đó, sẽ đơm hoa kết quả trong công lý, lòng thương xót và tình
yêu của chúng ta đối với tha nhân”.
Nếu cuộc sống của bạn bắt
đầu theo cách đó, thì đời sống chính trị của bạn nhất định cũng khởi sự từ đó. Một
người Kitô hữu đích thực, khi thực hiện quyền cử tri hoặc thực thi bổn phận
công chức, thì không thể phân rẽ, xem nhẹ hoặc chia cắt đức tin và sự liêm
khiết. Chúng ta cần biết ơn tất cả những người mang lại cho không gian công
cộng sự minh bạch, đưa tinh thần đạo đức vượt qua cái gọi là bức tường ngăn
cách chúng ta và ý nghĩa cuộc sống.
Ông Rick Santorum, một
thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, là người đã giúp chúng ta nâng cao ý thức trách nhiệm
đối với cuộc sống của người nghèo vốn là nạn nhân, bị xúc phạm nhân phẩm bởi hệ
thống phúc lợi của chương trình Đại Xã hội (Great Society). Ông đã bảo vệ cuộc
sống của những người dễ bị tổn thương nhất trong chúng ta. Ông đã từng kiên trì
bảo vệ cuộc sống hôn nhân trước khi trước khi đưa thành nội dung tranh cử. Ông
không đắc cử tổng thống để có thêm những đóng
góp vào việc chứng minh tự do tôn giáo, một yếu tố của đời sống Mỹ, chính là
sức mạnh của đất nước Hoa Kỳ.
Như Santorum nêu vấn đề
trên trong cuộc phê bình góp ý đối với Kennedy, chúng tôi có “cơ hội để không
chỉ bảo tồn, mà còn xây dựng trên tầm nhìn của người kiến tạo nền tự do dựa
trên đức hạnh, còn đức hạnh thì được nâng đỡ bởi đức tin sống động, được cả
Giáo Hội và Nhà nước củng cố”. Chúng ta
cần phải vững tin trong cuộc sống đức tin chân chính của mình, cần hành động khôn
ngoan và chính đáng, không nhằm tô vẽ để được an toàn hoặc có lợi về mặt chính
trị. Chúng ta không thật sự hiểu biết và yêu mến Thiên Chúa nếu không trở nên
khí cụ của Ngài trong gia đình, nơi làm việc, tại phòng bỏ phiếu, trên tầng họp
Quốc hội. Chúng ta có tự do để thực hiện điều đó. Và chúng ta đang thực hành sự
tự do.
Kathryn
Jean Lopez