Lên cao để gặp Chúa giữa những bước chân loan báo Tin mừng

Có những chuyến đi làm người ta mệt. Có những chuyến đi làm người ta vui. Nhưng cũng có những chuyến đi khiến người ta trở về với bao niềm thao thức. Chuyến thăm các giáo điểm truyền giáo vùng cao Bắc Kạn lần này đối với chúng tôi là một chuyến đi như thế. Chúng tôi trở về với nhiều xúc động, bùi ngùi và một trăn trở sâu hơn về việc loan báo Tin mừng. Chúng tôi thương bà con dân tộc H'Mông và các dân tộc khác đang sống giữa những điều kiện còn quá nhiều thiếu thốn. Chúng tôi thương các cha, các thầy, các nữ tu đang âm thầm coi sóc những giáo điểm xa xôi, nơi mà muốn đến được với bà con cũng phải đổi bằng những giờ đi bộ qua suối, qua núi. Và chúng tôi hiểu hơn một điều: “Yêu thương tạo nên thao thức, thao thức đưa đến dấn thân.”

Một cuộc điện thoại và một chuyến đi

Chiều hôm ấy, trong một ngày khá yên ả, tôi nhận được cuộc điện thoại của Cha giáo Giuse Nguyễn Duy Khương: “Alo Ngài ơi, em có chuyến đi thăm các giáo điểm ở miền Bắc để có cái nhìn rộng hơn về việc truyền giáo và giúp các thầy thực tập mục vụ truyền giáo. Mời ngài cùng đi với em nha?”. Nghe đến chuyện truyền giáo, tôi rất vui, tôi xin phép Đức cha và đồng ý đi với Cha Khương. Cha Khương đã liên hệ trước với Đức cha Giuse Đỗ Quang Khang, Giám mục Bắc Ninh. Chiều ngày 06/8/2026, chúng tôi lên đường đến Tòa Giám mục Bắc Ninh. Sáng hôm sau, hai cha “thổ địa” là Cha Hiến và Cha Lực đưa chúng tôi đến giáo điểm Nà Phặc, Lũng Pu và các giáo điểm khác… thuộc vùng núi cao Bắc Kạn. Trưa hôm ấy, Cha Tĩnh, vừa là cha sở vừa là cha quản hạt vùng truyền giáo Bắc Kạn, đón chúng tôi bằng một bữa cơm rất đơn sơ với gà bản luộc. Món ăn không cầu kỳ, nhưng tình người thì thật nồng ấm. Chiều đến, Cha phó Tú, một linh mục người dân tộc Tày, dẫn chúng tôi đến giáo điểm Lũng Pu dâng lễ. Và cũng từ đây, chúng tôi bắt đầu hiểu thế nào là những bước chân truyền giáo nơi vùng cao.

Con đường đến với bà con

Xe chỉ đưa chúng tôi đi được một đoạn. Phần còn lại phải đi bộ. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng con đường một linh mục đi dâng lễ mỗi tuần lại có thể gian nan đến như vậy. Chúng tôi đi theo con đường mòn qua một cánh đồng nhỏ, rồi bắt đầu len lỏi theo vách đá cạnh dòng suối, cứ thế đi ngược lên cao. Dưới chân là đá tai mèo sắc nhọn nằm san sát, rồi những khe suối trơn trượt. Mỗi bước đi đều phải dò thật kỹ. Cha Khương mấy lần suýt “vồ ếch”. Chặng đường khoảng 1 giờ, với chúng tôi đã là một trải nghiệm đáng nhớ. Nhưng tôi biết, với các cha nơi đây, đó chỉ là một phần rất bình thường của công việc mục vụ. Lúc đi còn ánh sáng nên cũng đỡ. Lúc trở về thì trời đã tối đen như mực. Cha Tú có kinh nghiệm nên chuẩn bị cho mỗi người một chiếc đèn pin đã sạc đầy. Chúng tôi cũng nhanh trí bẻ những cành cây bên đường làm gậy. Giữa núi rừng dày đặc bóng tối, chỉ có ánh đèn pin soi từng bước chân. Tiếng suối chảy, tiếng gió làm cành cây va vào nhau, tiếng côn trùng và ếch nhái vang vọng giữa rừng. Chúng tôi vừa đi vừa lần xuống núi. Và tôi cứ nghĩ mãi: “Đây là con đường các cha vẫn đi hàng tuần để đến với bà con.” Không phải một lần. Không phải một chuyến đi trải nghiệm. Mà là tuần này qua tuần khác.

Một giáo điểm nhỏ và những con người hiền lành

Giáo điểm Lũng Pu là một căn nhà nhỏ khoảng 50 mét vuông, làm sàn theo kiểu nhà của người H’Mông. Cả vùng có khoảng 35 gia đình. Có điện nhưng chưa có wifi để coi tivi. Thánh lễ hôm ấy cũng khoảng 35 người, kể cả trẻ em. Nhìn những khuôn mặt bà con, tôi thấy toát lên vẻ hiền lành, chân chất. Người ta kể rằng người H’Mông vốn thích sống trên những ngọn núi cao. Khi người Kinh hoặc dân tộc khác đến gần, họ có khi lại đi lên một ngọn núi cao hơn. Có lẽ vì họ không muốn chung đụng, tránh va chạm, không thích hơn thua, không đòi hỏi. Tôi hỏi cha sở: “Cha tìm ra họ bằng cách nào? Cha leo lên núi tìm họ chăng?”. Cha trả lời rất tự nhiên: “Chẳng cần tìm đâu. Họ tự xuống núi tìm đến nhà thờ”. Tôi nghe xong thấy lạ. Ở miền Tây và vùng Sài Gòn, nhiều khi chúng tôi phải tìm đến với dân. Phải đi vào những vùng sâu, vùng xa, đến từng gia đình, từng xóm làng. Còn ở đây, có những người dân lại tự tìm đến. Và lúc ấy tôi chợt nghĩ: “Có lẽ Chúa đã ở đó trước khi chúng ta đến.” Người truyền giáo không phải là người đem Chúa đến một nơi Chúa chưa hiện diện. Chúng ta chỉ bước vào một vùng đất mà Thiên Chúa đã âm thầm làm việc trong lòng con người từ trước.

Cụ bà 92 tuổi và một đức tin rất đơn sơ

Câu chuyện về một cụ bà 92 tuổi ở giáo điểm Lũng Pu làm chúng tôi xúc động nhất. Tuần nào bà cũng leo núi, lội suối, vượt dốc để đi lễ ở nhà thờ Nà Phặc. Điều đặc biệt là chiều thứ Bảy, Cha phó đã lên giáo điểm dâng lễ cho bà con, nhưng sáng Chúa nhật hôm sau, bà vẫn lại đi bộ xuống nhà thờ chính để dự lễ. Chúng tôi cứ nghĩ mãi về đôi chân của một cụ bà 92 tuổi. Núi cao, đường đá, suối sâu, tuổi đã quá cao, vậy mà bà vẫn đi. Cha Khương hỏi một vài người cao tuổi: “Tại sao ông bà đi nhà thờ?”. Họ trả lời rất thật: “Đi lễ vui, thấy khỏe hơn và con cái nghe lời hơn”. Một câu trả lời đơn sơ mà đẹp. Đức tin của họ có thể không được diễn tả bằng những thuật ngữ thần học. Có lẽ họ cũng chẳng nói được những điều cao siêu về giáo luật hay giáo lý. Nhưng họ biết một điều rất thật: Đi lễ thì vui, thấy khỏe hơn, gia đình cũng tốt hơn. Chúng tôi nghĩ đức tin vốn ngàn đời vẫn đẹp như vậy. Không phải lúc nào cũng bắt đầu bằng những điều lớn lao. Có khi chỉ bắt đầu bằng một niềm vui rất nhỏ, một sự bình an trong lòng, một gia đình thấy con cái sống tốt hơn, và một cụ già vẫn muốn vượt núi xuống nhà thờ để gặp Chúa.

Những đứa trẻ chạy đến khi thấy cha tới

Chúng tôi cũng không thể quên những em thiếu nhi ở các giáo điểm. Thấy cha đến, các em vui mừng chạy ùa ra. Có em ôm lấy chân cha, có em quấn quýt quanh chân cha như những chú gà con chạy quanh chân mẹ. Hình ảnh ấy làm chúng tôi nghĩ nhiều về việc truyền giáo. Truyền giáo nơi đây không chỉ là đem đến một chút vật chất để giúp bà con vượt qua khó khăn. Vật chất rất cần, nhưng có lẽ chưa đủ. Truyền giáo còn là “sự hiện diện và đồng hành”. Là cha đến với họ, ngồi với họ, ăn với họ, hỏi thăm họ, dâng lễ cho họ và rồi tuần sau lại trở lại. Có khi người dân không cần gì nhiều. Họ chỉ cần biết rằng có người nhớ đến mình, có người thương mình và sẵn sàng đi một quãng đường rất xa để ở bên mình.

Người nghèo nhưng giàu tấm lòng

Sau thánh lễ, chúng tôi được bà con mời ăn heo rừng, gà bản và uống rất nhiệt tình. Có người nghe tin có cha đến còn chạy hơn 30 km về chung vui. Đúng là người nghèo ở đâu cũng giàu tấm lòng. Điều làm chúng tôi cảm động nhất là gần như không nghe ai than vãn. Cuộc sống của họ rất cực khổ, nhưng họ dường như bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Không ai muốn hơn ai. Không ai giành giật chức vụ hay quyền hành. Không ai phải chứng minh mình hơn người khác. Gặp nhau, vui là đủ. Có gì ăn nấy, có gì chia sẻ nấy. Chúng tôi chợt thấy những thứ mà người ta ở dưới phố phải mất rất nhiều công sức để tranh giành như danh lợi, quyền hành, vị trí, hơn thua... nhưng khi lên đến những ngọn núi này thì những thứ đó đều trở thành vô nghĩa.

Những bước chân không mỏi của các nhà truyền giáo

Các cha kể cho chúng tôi nghe rằng còn rất nhiều giáo điểm như thế. Có giáo điểm phải đi bộ hai, ba tiếng. Có nơi xa hàng chục cây số, có nơi tới 60 km. Thế nhưng các cha vẫn đến hàng tuần. Chúng tôi từng làm công việc truyền giáo ở miền Tây sông nước và các giáo điểm Sài Gòn. Chúng tôi biết những con đường xa, những dòng sông sâu, những vùng quê heo hút cũng có cái cực riêng của nó. Nhưng đi lên vùng núi này rồi, tôi thấy mình phải nhìn lại. Không phải để so sánh nơi nào cực hơn nơi nào, mà để nhận ra có những hy sinh mình chưa từng biết đến. Chúng tôi thấy mình còn nhiều bất xứng. Những điều trước đây chúng tôi từng tự hào về những công việc, những công trình truyền giáo mình đã cố gắng thực hiện bỗng nhiên trở nên nhỏ bé trước những bước chân âm thầm của các cha nơi đây. Không phải những việc ấy không có giá trị, nhưng chuyến đi giúp chúng tôi hiểu rằng còn rất nhiều người đang dấn thân trong những điều kiện khó khăn hơn mình rất nhiều. Một chiếc xe cũ, một đôi chân, một cây gậy, một chiếc đèn pin, và một trái tim yêu thương. Chừng ấy thôi mà các cha vẫn đi. Chúng tôi nghĩ chắc chắn các cha phải thương dân lắm mới có thể đi mãi như thế. Nếu không thương, đường núi sẽ quá xa. Nếu không thao thức, núi sẽ quá cao. Nếu không dấn thân, người ta sẽ luôn có lý do để ở lại. Nhưng các cha vẫn đi. Đi qua núi. Đi qua suối. Đi trong đêm. Đi đến những nơi có khi chẳng ai biết tên. Chỉ vì ở đó có con người. Và con người thì cần được yêu thương. Chúng tôi hiểu thêm rằng “yêu thương chính là động lực của thao thức; thao thức đưa đến dấn thân; và dấn thân làm cho Tin mừng có một khuôn mặt cụ thể giữa đời thường.” Người truyền giáo không chỉ nói về Tin mừng. Người truyền giáo sống Tin mừng bằng chính bước chân của mình.

Hai gia đình chưa đến nhà thờ

Một chi tiết nhỏ trong buổi gặp gỡ ở Lũng Pu cũng làm tôi nhớ mãi. Bà con khoe: “Còn hai gia đình nữa chưa đi nhà thờ ạ!”. Trong bài giảng, chúng tôi động viên họ: “Vậy cố gắng làm cho họ về chung nhà với chúng ta nhé!”. Bà con thưa: “Vâng!”. Chỉ một tiếng “vâng” đơn sơ. Nhưng tôi hy vọng tiếng “vâng” ấy sẽ trở thành một quyết tâm. Rồi một ngày hai gia đình ấy sẽ đến. Có thể chưa phải ngày mai. Có thể còn phải kiên nhẫn. Nhưng truyền giáo là thế. Người truyền giáo cứ gieo. Còn Thiên Chúa làm cho hạt giống lớn lên. Hy vọng với ơn Chúa, rồi sẽ có thêm những gia đình trở về chung một mái nhà.

Gặp Chúa trên cao

Chia tay Lũng Pu, chúng tôi lên đường đến những giáo điểm khác. Bà con đứng nhìn theo, có chút bịn rịn. Chúng tôi nói: “Yên tâm nhé, nhất định chúng tôi sẽ quay trở lại”. Nói rồi chúng tôi đi mà trong lòng cứ lưu luyến. Tình người nơi bản làng này thật lạ: “Cao hơn núi và rộng hơn sông.” Chuyến đi cũng khiến chúng tôi thao thức nhiều. Điều quan trọng không phải là làm lớn hay nhỏ hay quyền hành chức vụ gì, mà chỉ là mình đã yêu được bao nhiêu, đã đi đến với ai, đã ở bên cạnh ai khi họ cần mình. Chúng tôi thương các cha, các thầy, các nữ tu đang âm thầm dấn thân nơi những vùng đất xa xôi này. Chúng tôi thương những anh chị em H’Mông và các dân tộc khác đang sống trong những hoàn cảnh còn quá nhiều nhọc nhằn. Họ cũng là con người. Cũng là những người con của Thiên Chúa. Họ nghèo về vật chất, nhưng giàu tình người. Họ thiếu thốn nhiều thứ, nhưng vẫn có niềm vui. Có lẽ Chúa vẫn đang âm thầm lo liệu cho họ theo cách của Người. Và chúng tôi càng xác tín hơn rằng: “Chúa đã hiện diện nơi đó trước khi chúng ta đến.” Người đã ở trong những căn nhà nghèo, trong ánh mắt hiền lành của bà con, trong tiếng cười của trẻ nhỏ, trong bước chân của cụ bà 92 tuổi, trong bữa cơm đơn sơ và trong những bước chân mệt mỏi của các nhà truyền giáo. Chúng ta không mang Chúa đến cho họ. Chúng ta chỉ được mời gọi nhận ra Người đang ở đó và giúp họ nhận ra Người. Có lẽ đó mới là vẻ đẹp sâu xa của việc loan báo Tin mừng: không phải chỉ nói về Chúa, mà là hiện diện, đồng hành và yêu thương con người bằng chính cuộc đời mình. Có lẽ truyền giáo thật ra không quá phức tạp. Một cuộc điện thoại, một lời mời, một chuyến đi, một đôi chân chịu bước, một trái tim biết thao thức, và một tình yêu đủ lớn để đi tiếp. Tôi nhớ con đường đá tai mèo hôm ấy. Nhớ tiếng suối trong đêm. Nhớ ánh đèn pin lập lòe giữa núi rừng. Nhớ căn nhà nhỏ 50 mét vuông. Nhớ bữa cơm gà bản. Nhớ những đứa trẻ chạy quấn lấy chân cha. Nhớ cụ bà 92 tuổi lội suối đi lễ. Nhớ tiếng “vâng” của bà con khi nói về hai gia đình chưa đến nhà thờ. Và nhớ những bước chân của các cha. Những bước chân không ồn ào, không ai biết hết, nhưng cứ đi trong sự dấn thân và phó thác. Chúng tôi trở về sau chuyến đi với một điều cứ vang mãi trong lòng: “Yêu thương và thao thức sẽ không cho người ta đứng yên. Thao thức đưa đến dấn thân. Và những bước chân dấn thân ấy, dù mệt mỏi, vẫn có thể trở thành con đường để Tin mừng đến với một con người, một gia đình, một bản làng.”

Xin phó thác những người anh chị em nơi các bản làng vùng cao trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Xin Chúa gìn giữ những bước chân của các nhà truyền giáo. Và xin cho mỗi người chúng ta biết bước ra khỏi sự an toàn của mình, để đi về phía những con người đang chờ được yêu thương.

Lm. Giuse Nguyễn Duy Khương

Lm. Micae Nguyễn Khắc Minh