Đức cha Phêrô NGUYỄN VĂN NHƠN
Giám mục Đà Lạt, Chủ tịch Hội đồng Giám mục
Việt Nam
trả lời phỏng vấn Báo L’Osservatore
Romano, ngày 24-6-2009
Lời giới thiệu
Một Giáo Hội
sinh ra từ gần 5 thế kỷ nay, in đậm dấu ấn về lòng can đảm của biết bao chứng
nhân đã cam chịu các cuộc bắt đạo và bạo lực, nhưng vẫn loan báo Tin Mừng. Một
Giáo Hội mang nét vẻ đặc biệt vì nhiều hạt giống tràn đầy nhựa sống, cũng như
rõ nét về sự tham dự năng động của người giáo dân vào sứ mệnh của Giáo Hội và
có sự tăng trưởng rất đáng kể về con số ơn gọi linh mục và tu trì. Một Giáo Hội
còn mang vết tích của chia rẽ đã tác động vào vận mệnh của Đất Nước trong những
thập niên gần đây, nhưng qua những bước đi nhỏ nhẹ, Giáo Hội này đã tiến triển
trong việc đối thoại với các cơ chế của Nhà Nước, như đã nhiều lần được xác
nhận trong các cuộc viếng thăm định kỳ của các Phái đoàn Tòa Thánh, cuộc viếng
thăm cuối cùng thực hiện vào năm 2009. Đó là thực tại của cộng đoàn Giáo Hội
tại Việt Nam được nhận ra qua bài trả lời Phỏng vấn dành cho bản Báo của chúng
tôi do Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám mục Đà Lạt và Chủ tịch Hội đồng Giám
mục Việt Nam, hiện có mặt tại Vatican trong những ngày này để viếng thăm Tòa
Thánh theo luật định ad limina. Sau đây là nguyên văn bài Phỏng vấn.
Ký giả
Nichola Gori: Tầm quan trọng của cuộc thăm viếng do Phái đoàn Tòa Thánh
thực hiện tại Việt Nam vào năm 2007 đã đóng góp để cải tiến mối liên hệ giữa
Nhà Nước và Giáo Hội, có phải vậy không, thưa Đức cha?
ĐC Nhơn: Phúc âm của
Chúa Kitô đã được loan báo trên thửa đất Việt Nam từ năm 1533. Hàng Giáo phẩm
được thành lập vào năm 1960, trong một thời điểm mà Việt Nam bị chia đôi xét về
phương diện chính trị. Chỉ vào năm 1980 sau khi thống nhất hai Miền Nam Bắc vào
năm 1975, thì Hội đồng Giám mục mới sinh ra cho cả Nước Việt Nam. Biến cố này,
chúng tôi sẽ cử hành vào năm 2010, dịp năm mươi năm [1], và được đánh dấu đặc
biệt với lá thư mục vụ đầu tiên mang tính cách giám mục đoàn, ngày 1-5-1980 [2]
, để mời gọi tất cả Dân Chúa hãy để cho mình được Phúc Âm hướng dẫn trong đời
sống thường ngày và trong việc dấn thân phục vụ công ích.
Sau đó cuộc viếng
thăm vào năm 1989 của Phái đoàn Tòa Thánh do Đức Hồng y Roger Etchegaray cầm
đầu, đã đánh dấu một khúc quanh lịch sử cho Giáo Hội của Chúa Kitô tại Việt
Nam. Sau thời điểm này Tòa Thánh đã có thể cử sang Việt Nam hầu như mỗi năm một
phái đoàn để đối thoại với Chính Phủ và để thăm viếng các Giáo phận của chúng
tôi. Những cuộc viếng thăm mục vụ này, nhất là cuộc viếng thăm của Phái đoàn
Tòa Thánh từ ngày 5 đến ngày 11 tháng 3 năm 2007, do Đức Ông Pietro Parolin,
Thứ trưởng Ngoại giao Tòa Thánh, đặc trách các Liên hệ với các Quốc gia – sau
cuộc gặp gỡ lịch sử vào ngày 25 tháng giêng năm 2007 giữa Thủ tướng Việt Nam và
Đức Giáo Hoàng Bênêđicto XVI tại Vatican – đã đem lại cho chúng tôi luồng ánh
sáng và các lý do hy vọng, là những yếu tố làm củng cố đức tin của cộng đoàn
Kitô hữu. Quả thế cuộc viếng thăm năm 2007 đã đóng góp vào việc cải tiến các
mối bang giao giữa Nhà Nước và Giáo Hội Công Giáo: người ta nói đó là con đường
tích cực dẫn tới việc thiết lập ngoại giao giữa hai bên. Chúng tôi mong rằng
trong một tương lai gần đây các mối bang giao này sẽ trở nên hiện thực. Chúng
tôi cũng rất mong mỏi có sự hiện diện thường xuyên của Tòa Thánh, qua một vị
Đại diện của Đức Thánh Cha tại Việt Nam. Với chúng tôi đó là dấu hiệu hữu hình
của Đức Thánh Cha và của Giáo Hội hoàn vũ ở giữa Đất Nước chúng tôi. Đàng khác,
sự hiện diện thường xuyên của Tòa Thánh sẽ làm cho dễ dàng những cuộc gặp gỡ và
các cuộc đối thoại với Nhà cầm quyền, nhằm mục đích thể hiện chứng tá của đức
ái, của Tin Mừng của Chúa Kitô trong Đất Nước chúng tôi.
N. Gori: Sự phát
triển kinh tế và việc mở cửa trong phạm vi thương mại của Đất Nước có mang lại
những lợi ích và thay đổi ý nghĩa cho điều kiện sinh sống của người dân không, thưa
Đức cha ?
ĐC Nhơn: Sự phát
triển kinh tế và thương mại của Đất Nước đã mang lại những tiện ích và đóng góp
vào vào việc thay đổi các điều kiện sinh sống của người dân, nhất là tại những
thành phố. Nhưng phần lớn dân chúng Việt Nam sống tại nông thôn và một phần
cũng đáng kể thuộc các sắc tộc thiểu số khác nhau sống rải rác trên các vùng
núi miền Bắc, miền Trung cũng như tại Đồng Bằng sông Cửu Long. Ở
các vùng này người dân vẫn còn là những người nghèo nhất trong xã hội. Cùng với
sự phát triển kinh tế và sự cởi mở về thương mại đã có những biến đổi tích cực
cho dân chúng, nhưng vẫn còn những lỗ hổng trong nhiều phạm vi khác nhau liên
hệ tới gia đình, luân lý và xã hội. Khoảng cách giữa người giầu và người
nghèo càng ngày càng xa cách hơn.
N. Gori: Trong một
đất nước mà phần đông là Phật Giáo, việc đối thoại liên tôn đã thể hiện ở cấp
bậc nào và đâu là những bước tiến đang được thực hiện, thưa Đức cha?
ĐC Nhơn: Giáo Hội
Công Giáo tại Việt Nam giữ được mối liên hệ tốt với các tôn giáo bạn và các
cộng đoàn tôn giáo khác, nhất là với Phật Giáo. Không có những căng thẳng giữa
các tôn giáo và giữa những người tuyên xưng một niềm tin khác. Vẫn có được một
hình thức nào đó để “đồng cảm” giữa các người Việt Nam tuyên xưng
những tôn giáo khác nhau – là Phật tử,
là Công giáo, là Tin lành hay là tín đồ của bất cứ tôn giáo địa phương
nào khác – bởi vì tất cả đều chia sẻ những khó khăn giống như nhau và có những
thao thức hy vọng như nhau.
Còn về vấn đề đối
thoại liên tôn, đang có những nỗ lực,
nhưng điều này thực hiện tùy theo từng vùng. Nói chung có những cuộc
viếng thăm các chùa chiền Phật giáo trong dịp lễ Vesak và chúng tôi cũng tiếp
đón các cuộc viếng thăm vào các dịp đầu năm dương lịch, ngày Tết của
người Việt Nam. Có sự tôn trọng hỗ tương
trong phạm vi các nguyên tắc của niềm tin và các việc thực hành tôn giáo, nhưng
vẫn còn thiếu những mối liên hệ ở cấp bậc tu đức và trí thức.
N. Gori: Có những
khác biệt giữa Miền Bắc và Miền Nam trong công việc rao giảng Tin Mừng và việc
phân bổ các linh mục không, thưa Đức cha?
ĐC Nhơn: Với Hiệp
định Genève năm 1954, Đất Nước chúng tôi bị chia làm hai miền: Việt Nam miền
Bắc và Việt Nam miền Nam. Một số khá đông các linh mục, nam nữ tu sĩ và giáo
dân công giáo thuộc Miền Bắc di tản xuống miền Nam, để lại cho Giáo Hội
tại miền Bắc vấn đề khan hiếm nhân sự và mọi khó khăn khác: Giáo Hội tại miền
Bắc không thể tham dự Công Đồng Chung Vatican II. Sau khi thống nhất Đất Nước
vào năm 1975 – và nhất là sau khi thành lập Hội đồng Giám mục Việt Nam vào năm
1980 – đã có những cuộc gặp gỡ, trao
đổi, hội thảo, những hình thức chia sẻ trong nhiều phương diện giữa Giáo Hội
tại miền Bắc và Giáo Hội tại miền Nam. Các cuộc thuyên chuyển và các vụ
bổ nhiệm giám mục từ phía Tòa Thánh đã giúp cổ võ những cố gắng hướng tới sự
trao đổi nhân sự giữa miền Nam và miền Bắc. Với việc mở các Chủng viện
Hà Nội, Vinh (cho miền Bắc), Sàigòn, Huế, Nha Trang, Xuân Lộc (cho miền Nam),
cũng như các Học viện cho các Dòng tu, và cùng với sự trao đổi các giáo sư giữa
miền Bắc và miền Nam, đời sống của Giáo Hội tại Việt Nam đã trở nên đồng
nhất hơn trong những vấn đề liên hệ hơn với việc rao giảng Tin Mừng và sự hiện
diện của các linh mục.
N. Gori: Đâu
là những đóng góp của các tu sĩ nam nữ trong công tác xã hội, giáo dục và mục
vụ của Giáo Hội, thưa Đức cha?
ĐC Nhơn: Đây là điểm
mạnh của Giáo Hội tại Việt Nam. Chúng tôi có một đội ngũ khá đáng kể các nam nữ
tu sĩ, mà, nói chung ra, họ rất có khả năng và được huấn luyện thỏa đáng thích
hợp cho việc giáo dục, mục vụ, và công tác bác ái. Sự đóng góp của họ và sự
phục vụ của họ thật quý báu cho Giáo Hội, nhưng vẫn còn chưa được công nhận cho
đủ từ phía Nhà Nước.
N. Gori: Đâu là những
ưu tiên của Giáo Hội tại Việt Nam trong lãnh vực thực hành công tác cổ võ cho
sự công bình xã hội, thưa Đức cha?
ĐC Nhơn: Trước năm
1975, Giáo Hội tại miền Nam đã suy tư và đưa ra những dấn thân rõ ràng cho công
bình xã hội. Hầu như trong mỗi giáo phận đều có những cuộc hội thảo làm
việc theo các đề tài về công lý và hòa bình. Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn
Thuận, lúc đó là Giám mục giáo phận Nha Trang, là Chủ tịch Ủy ban Iustitia
et Pax - rồi ngài là Hồng y và là
Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Công Lý và Hòa Bình (Iustitia et Pax) – đã
tổ chức những buổi học tập và hội thảo khác nhau cho hàng giáo sĩ, cho tu sĩ và
giáo dân. Hiện thời chúng tôi cố gắng để đem ra thực hành giáo huấn xã hội
của Giáo Hội, trong những giới hạn có thể, bắt đầu với việc trợ giúp các
người nghèo và túng thiếu nhất: các người bị mắc chứng bệnh Hansen và HIV, các
dân thuộc sắc tộc thiểu số, các hạng người sống tại các khu nhà ổ chuột và
những công tác giống như thế.
N. Gori: Thưa Đức cha, Giáo Hội có được tự do để thi
hành sứ vụ của mình trong Đất Nước của Đức Cha không?
ĐC Nhơn: Mỗi ngày
chúng tôi cảm thấy có sự cởi mở hơn cho các sinh hoạt tôn giáo, nhưng tất cả
đều tùy thuộc tình hình cụ thể của từng vùng. Dầu sao trong mọi trường hợp,
Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trong các sinh hoạt của Giáo Hội và làm cho
Giáo Hội của Chúa Kitô luôn tự do trong việc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc.
Chúng tôi xác tín điều này.
L’Osservatore Romano, ngày 24-6-2009, tr. 8.
Người dịch: Lm.
Phanxicô Borgia Trần Văn Khả
Roma, ngày
25-6-2009
---------------------------
[1]
Bản văn viết là “trentennale” = được hơn 30 năm nay.
[2]
Ngày Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Chú
thích của người dịch)