MỞ ĐẦU: TIẾNG VỌNG TỪ DÒNG SÔNG

I. CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NƯỚC MẶN (BÌNH ĐỊNH)

1. Nguồn gốc hình thành chữ Quốc ngữ và vai trò của Nước Mặn

2. Đời sống đức tin là nội lực cốt lõi trong tiến trình sáng tạo và bảo tồn chữ Quốc ngữ

II. CHỮ VIẾT HỆ LATINH TRÊN TÂY NGUYÊN

1. Quá trình sáng tạo chữ Bahnar

2. Sự cộng tác đắc lực của Cha Do và đội ngũ Thầy giảng

3. Xây dựng chữ viết Jrai

4. Phát triển và ứng dụng chữ Quốc ngữ trên Tây Nguyên

KẾT: CÂY CẦU NỐI LIỀN ĐẠI NGÀN VÀ BIỂN LỚN

 

MỞ ĐẦU: TIẾNG VỌNG TỪ DÒNG SÔNG

Hơn bốn thế kỷ trước, tại bến cảng Nước Mặn sầm uất xứ Đàng Trong, những nét chữ Latinh đầu tiên ghi dấu tiếng Việt đã ra đời từ sự giao thoa kỳ diệu giữa các giáo sĩ phương Tây và tâm hồn, trí tuệ của người dân bản địa. Từ dải đất duyên hải Bình Định nắng gió, dòng chảy chữ viết ấy không dừng lại mà tiếp tục ngược dòng sông Côn, vượt đầu nguồn dòng sông Ba, vượt qua những đèo dốc hiểm trở để vươn mình lên đại ngàn Tây Nguyên.

“Di sản chữ viết hệ Latinh: Từ Nước Mặn đến Tây Nguyên” không chỉ là câu chuyện về cuộc dịch chuyển của một hệ thống ký tự. Đó là hành trình kết tinh từ niềm tin Kitô giáo, từ tri thức, mồ hôi và cả máu của những vị tiền nhân - từ các giám mục, linh mục, thầy giảng, giáo dân, người ngoại quốc và người Việt, đến những người dân tộc thiểu số trên xứ Kon Tum. Chính sự hợp tác âm thầm nhưng bền bỉ ấy đã biến một thứ văn tự xa lạ trở thành nhịp cầu nối liền các vùng văn hóa, mở ra chặng đường khai sáng và bảo tồn di sản cho muôn đời sau.


I. CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NƯỚC MẶN (BÌNH ĐỊNH)

1. Nguồn gốc hình thành chữ Quốc ngữ và vai trò của Nước Mặn

Từ nhu cầu truyền giáo và vượt qua rào cản ngôn ngữ, các thừa sai Dòng Tên đầu thế kỷ XVII đã học tiếng Việt và khởi xướng việc dùng mẫu tự Latinh để ký âm tiếng nói của người Việt, với sự cộng tác của các tín hữu bản địa. Trong tiến trình này, cùng với các Cư sở Hội An và Dinh Chiêm, Cư sở Nước Mặn (Tuy Phước, Bình Định) đóng vai trò là một trong những trung tâm phôi thai chữ Quốc ngữ sớm nhất[1].

Thật vậy, tháng 7 năm 1618, cư sở Dòng Tên tại Nước Mặn được thành lập bởi các giáo sĩ Francesco Buzomi, Cristoforo Borri và Francisco de Pina dưới sự bảo trợ của Quan trấn thủ Qui Nhơn Trần Đức Hòa.

Dù những năm đầu còn thận trọng sử dụng thông ngôn để bảo đảm truyền đạt chính xác giáo lý, Cha Francesco Buzomi vẫn là một trong những người tiên phong đặt nền móng cho chữ Quốc ngữ. Với vai trò Bề trên Cư sở Nước Mặn, ngài tổ chức, hướng dẫn và giám sát việc nghiên cứu tiếng Việt của các thừa sai, đồng thời trực tiếp tham gia biên soạn ngữ vựng, văn phạm và thực nghiệm cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Những bút tích Quốc ngữ còn lưu lại tuy ít nhưng cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong cách viết. Cha Buzomi cũng đào tạo nhiều thừa sai học tiếng Việt, góp phần hình thành một trung tâm nghiên cứu ngôn ngữ tại Nước Mặn. Vì thế, ngài được nhìn nhận là người tiên phong, vừa là nhà tổ chức, người đồng hành và người thầy trong giai đoạn phôi thai chữ Quốc ngữ.

Trong khi đó, Cha Francisco de Pina là giáo sĩ châu Âu đầu tiên thông thạo tiếng Việt, được các thừa sai cùng thời như Borri, Luiz, De Rhodes xác nhận. Không chỉ nghiên cứu ngôn ngữ, ngài còn biên soạn các tài liệu về chính tả, dấu thanh và ngữ pháp tiếng Việt, là một trong những người đặt nền tảng cho việc Latinh hóa tiếng Việt, dù phần lớn trước tác nay đã thất lạc. Cha Pina cũng là tác giả chính của quyển sách giáo lý đầu tiên tại Nước Mặn với sự cộng tác của một thanh niên người Việt am hiểu chữ Hán. Những bản phiên âm bằng mẫu tự Latinh từ công trình này được xem là hình thái sơ khai của chữ Quốc ngữ trước thời Alexandre de Rhodes, khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của Cha Pina trong quá trình hình thành chữ Quốc ngữ.

Còn Cha Cristoforo Borri, trong thời gian hoạt động tại Nước Mặn (1618–1622), đã góp phần quan trọng vào giai đoạn đầu hình thành chữ Quốc ngữ qua việc nghiên cứu và ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Trong tác phẩm Relatione della nuova missione delli PP. della Compagnia di Giesù al Regno della Cocincina (Tường trình về khu truyền giáo Đàng Trong/ Xứ Đàng Trong), viết năm 1621-1622, xuất bản năm 1631, ngài lưu lại nhiều từ ngữ và câu tiếng Việt được Latinh hóa, trở thành những chứng tích quý giá về hình thái sơ khai của chữ Quốc ngữ trước thời Alexandre de Rhodes. Các nhà nghiên cứu đánh giá những ghi chép của Cha Borri phản ánh khá chính xác ngữ âm tiếng Việt, kể cả tiếng nói địa phương Nước Mặn, qua đó cho thấy việc Latinh hóa tiếng Việt đã được khởi sự từ khoảng các năm 1618–1620 và khẳng định vai trò tiên phong của ngài trong tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.

Sách Relatione della nuova missione…- Cristoforo Borri

Đặc biệt, Cha Alexandre de Rhodes, tuy không phải là người sáng tạo chữ Quốc ngữ, nhưng là người kế thừa, hoàn chỉnh và phổ biến hệ thống chữ viết này. Tiếp thu thành quả của các thừa sai đi trước, đặc biệt là công trình của các Cha Barbosa và Amaral, ngài hoàn thiện phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh, nhất là việc sử dụng các dấu thanh. Năm 1651 tại Rôma, Cha xuất bản Tự điển Việt–Bồ–La và Phép giảng tám ngày, hai tác phẩm Quốc ngữ đầu tiên, đánh dấu bước phát triển quan trọng của chữ Quốc ngữ. Những công trình này không chỉ góp phần chuẩn hóa chữ viết mà còn thể hiện sự hội nhập sâu sắc vào ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, đặt nền tảng cho sự phát triển của chữ Quốc ngữ trong Giáo hội và đời sống văn hóa dân tộc[2].

2. Đời sống đức tin là nội lực cốt lõi trong tiến trình sáng tạo và bảo tồn chữ Quốc ngữ

Nếu công cuộc truyền giáo là động lực thôi thúc các giáo sĩ tìm kiếm một công cụ giao tiếp, thì sự cộng tác sâu sắc của cộng đồng người Việt chính là yếu tố quyết định góp phần hình thành chữ Quốc ngữ. Chữ Quốc ngữ không phải là công trình của riêng một cá nhân hay hoàn toàn do người phương Tây tạo ra, sự tham gia của các thầy giảng và giáo dân người Việt đã giúp hệ chữ này vượt lên khỏi một phương tiện ký âm đơn thuần để trở thành một ngôn ngữ sống động, chuẩn xác và đậm đà bản sắc dân tộc.

Động lực quan trọng giúp phát triển và bảo lưu chữ Quốc ngữ không chỉ là tính dễ học, dễ phổ biến mà còn xuất phát từ niềm tin Kitô giáo. Nhu cầu sử dụng kinh sách, giáo lý và các tài liệu phụng vụ đã hình thành một nền văn học Nhà Đạo bằng chữ Quốc ngữ. Dù trải qua chiến tranh, bách hại và nhiều tổn thất về sách vở, Giáo hội vẫn kiên trì gìn giữ, phục hồi và in ấn kinh sách để phục vụ đời sống đức tin của cộng đoàn suốt gần 400 năm.

Nhà in Làng Sông (Qui Nhơn), cùng với các nhà in Tân Định (Sài Gòn) và Kẻ Vĩnh (Nam Định), là một trong ba trung tâm truyền bá chữ Quốc ngữ đầu tiên ở Việt Nam. Từ cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, nhà in Làng Sông đã xuất bản khối lượng lớn sách báo, kinh sách và tài liệu giáo dục, góp phần quan trọng vào việc phổ biến chữ Quốc ngữ.

Đồng thời, Giáo phận Đông Đàng Trong (Qui Nhơn) xây dựng mạng lưới trường học dạy văn hóa và giáo lý, ban hành quy chuẩn về tổ chức trường lớp, chương trình giảng dạy và khuyến khích mọi giáo xứ mở trường Quốc ngữ[3]. Nhờ sự tham gia của các linh mục, tu sĩ, thầy giảng và cộng đồng tín hữu, chữ Quốc ngữ được truyền dạy liên tục qua nhiều thế hệ, trở thành phương tiện nuôi dưỡng đức tin và được bảo lưu bền vững trong đời sống Giáo hội địa phương.

Vì thế, chữ Quốc ngữ không phải là sản phẩm của chủ nghĩa thực dân hay sự phủ nhận chữ Hán, chữ Nôm, mà là kết quả của tinh thần hội nhập văn hóa và sáng tạo trong công cuộc loan báo Tin mừng. Trải qua nhiều thế kỷ, cùng với sự vun đắp của nhiều thế hệ trí thức Việt Nam, chữ Quốc ngữ vượt ra khỏi phạm vi Giáo hội để trở thành văn tự chung của dân tộc, góp phần quan trọng vào sự phát triển văn hóa, giáo dục và khẳng định bản sắc quốc gia Việt Nam.


II. CHỮ VIẾT HỆ LATINH TRÊN TÂY NGUYÊN

1. Quá trình sáng tạo chữ Bahnar

Tây Nguyên là vùng cư trú lâu đời của các dân tộc bản địa như Bahnar, Jrai, Sêđăng, Jeh-Triêng... Cho đến đầu thế kỷ XIX, vùng đất này vẫn còn khá biệt lập với bên ngoài và hầu như chưa có sự hiện diện của người Kinh.

Năm 1848, theo chỉ thị của Đức Giám mục Stêphanô Cuénot Thể, Đại diện Tông tòa Giáo phận Đông Đàng Trong, Thầy sáu Phanxicô Do đã dẫn đường đưa các linh mục Hội Thừa sai Paris (MEP) cùng các thầy giảng người Việt tiến lên Kon Tum, mở đầu công cuộc truyền giáo tại Tây Nguyên. Đến năm 1851, Đức cha Cuénot thành lập bốn trung tâm truyền giáo đầu tiên, chính thức khai sinh Miền Truyền giáo Thượng (Mission des Pays Moys). Sự kiện này không chỉ đánh dấu bước khởi đầu của Giáo phận Kon Tum mà còn mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử văn hóa Công giáo Tây Nguyên, gắn bó mật thiết với tiến trình giao lưu và phát triển của văn hóa các dân tộc bản địa.

Cũng như các giáo sĩ Dòng Tên khi đặt chân đến Đại Việt, các thừa sai MEP khi lên Tây Nguyên cũng phải đối diện trước hết với rào cản ngôn ngữ. Tuy nhiên, thách thức lần này phức tạp hơn khi họ đồng thời phải giải quyết hai nhiệm vụ: sáng tạo hệ thống chữ viết cho tiếng Bahnar nhằm phục vụ công cuộc truyền giáo nơi người bản địa, đồng thời bảo tồn và phát triển chữ Quốc ngữ để đáp ứng nhu cầu mục vụ của cộng đồng người Kinh ngày càng đông đến định cư trên vùng cao nguyên. Để thực hiện sứ mạng kép ấy, cần có một con người hội đủ năng lực và đức độ. Với nhãn quan mục vụ sâu rộng, Đức cha Cuénot đã chọn Thầy sáu Do (sau là Linh mục Phanxicô Do) và trao cho Thầy trọng trách tiên phong trong công cuộc này.

“Thầy kiên trì hỏi han anh em dân tộc về ngôn ngữ, phong tục, tập quán của họ... Thầy đã cố gắng ghi nhớ một số từ vựng của thổ ngữ mà một ngày kia, nhờ nó, Thầy sẽ rao giảng Đức Giêsu Kitô cho những người đáng thương này... Sau sáu tháng sống đời phiêu bạt, Thầy sáu Do đã biết khá nhiều thổ ngữ của các dân tộc, đủ để có thể phiêu lưu một mình.”[4]

Song song với công việc của Thầy sáu Do, các thừa sai Pháp cũng bắt đầu quá trình ghi âm tiếng Bahnar bằng mẫu tự Latinh. Trong lá thư đề ngày 29 tháng 9 năm 1853 gửi Ban Giám đốc Chủng viện Hội Thừa sai Paris, Cha Combes cho biết phần lớn thời gian của ngài được dành để học thổ ngữ nhằm dịch kinh nguyện và giáo lý. Vì công việc ấy quá bận rộn nên ngài chưa thể thực hiện những khảo cứu địa lý và dân tộc học như mong muốn[5].

Cha Dourisboure sau này mô tả khá sinh động phương pháp học tiếng của ngài, Cha Combes và Cha Fontaine:

“Sáng sớm và chiều tối... chúng tôi lên nhà rông học hỏi năm ba từ. Mỗi người cầm tay khúc bút chì và một mảnh giấy... Đến khi anh em Thượng đi rẫy hoặc đi ngủ, thì ba chúng tôi tụ họp lại, so sánh những điều đã ghi chú... Sau một tháng rưỡi ở nhà ông Hmur, chúng tôi đã ghi được một quyển sổ dày những từ ngữ.”[6]

Năm 1852, khi đến sống một mình tại Kon Trang giữa cộng đồng người dân tộc thiểu số, Linh mục Dourisboure không khỏi cảm thấy nỗi buồn da diết trước một ngôn ngữ hoàn toàn xa lạ. Nhận thấy tiếng Sêđăng là công cụ thiết yếu để giao tiếp và truyền giáo, ngài bắt đầu bắt tay vào học. Nhờ sự giúp đỡ tận tình của gia đình ông Lam – nơi ngài tạm trú, Linh mục Dourisboure nhanh chóng nắm được những vốn từ cơ bản.

Đến năm 1853, sau hai năm kiên trì mày mò, các thừa sai đã hoàn thành những bản kinh và tài liệu giáo lý đầu tiên cho các dự tòng. Trong tác phẩm Dân Làng Hồ, tác giả chia sẻ:

"Tôi đã bắt đầu biết kha khá thổ ngữ thông dụng ở Kon Trang. Còn Cha Combes đã soạn xong tập giáo lý nhỏ bằng tiếng Bahnar và dịch xong các kinh bắt buộc cho Kitô hữu. Đến lượt mình, tôi dịch lại công trình nhỏ bé của ngài sang tiếng Sêđăng."[7]

Chính từ những bước khởi đầu gian khó ấy, các cộng đoàn Kitô giáo trên Miền Truyền giáo Tây Nguyên đã dần dần được hình thành và phát triển.

2. Sự cộng tác đắc lực của Cha Do và đội ngũ Thầy giảng

Việc sáng tạo chữ Bahnar không phải là kết quả của những nỗ lực riêng lẻ, nhưng được đặt trên nền tảng đào tạo bài bản của Giáo phận Đông Đàng Trong. Trước khi lên Tây Nguyên, các thừa sai MEP đều trải qua thời gian học tiếng Việt và sử dụng thành thạo chữ Quốc ngữ tại các giáo xứ vùng Bình Định. Chính kinh nghiệm này đã giúp họ vận dụng hệ chữ Latinh để ghi âm tiếng Bahnar một cách tương đối thống nhất.

Bên cạnh các thừa sai Pháp, đội ngũ thầy giảng người Việt giữ vai trò hết sức quan trọng. Ngoài Thầy sáu Do, còn có các thầy Thám, Tài, Chính, Bảo, Biểu, Bường, Tiển, Hộ, Thế, Hưng, Lương, Nam, Sử, Sáng cùng các chú Phiên, Ba Lực, Thinh, Đước... Nhiều người trong số họ từng được đào tạo tại Chủng viện Penang (Malaysia), trung tâm đào tạo linh mục hàng đầu Đông Nam Á lúc bấy giờ, nên có nền tảng ngôn ngữ và phương pháp truyền giáo khá vững chắc[8].

Năm 1857, Cha Dourisboure kế nhiệm Cha Combes giữ chức Bề trên Miền Truyền giáo Kon Tum. Ngay sau đó, ngài bắt tay biên soạn cuốn từ điển ba ngôn ngữ Vocabularium apud barbaros Bahnar (Bahnar – Việt – Pháp) và hoàn thành vào năm 1870. Bản thảo dày 265 trang (AMEP, vol. 1946), mỗi trang được chia thành ba cột tương ứng với ba ngôn ngữ Bahnar, Việt và Pháp. Đây là công trình ngôn ngữ học đầu tiên có tính hệ thống về chữ Bahnar và chữ Quốc ngữ, góp phần chuẩn hóa chữ viết và tạo nền tảng cho việc nghiên cứu ngôn ngữ cũng như công cuộc truyền giáo tại Tây Nguyên.

Vocabularium apud barbaros Bahnar - Hội thừa sai Paris, vol. 1946.

Đến năm 1889, Cha Dourisboure tiếp tục xuất bản Dictionnaire Bahnar-Français. So với bản thảo năm 1870, công trình này đã lược bỏ phần tiếng Việt, chỉ giữ lại hai cột Bahnar và Pháp, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu học tập và truyền giáo của các thừa sai.

Tự điển Dictionnaire Bahnar-Français- P. Dourisboure

3. Xây dựng chữ viết Jrai

Thành công của chữ Bahnar nhanh chóng trở thành tiền đề để các nhà truyền giáo tiếp tục xây dựng chữ viết Latinh cho các dân tộc khác.

Đầu năm 1898, Cha Guerlach (Cảnh) khi đến truyền giáo vùng Bon Uin – Thuần Mẫn (Ayun Pa) đã soạn thảo một tập từ vựng tiếng Jrai bằng mẫu tự Latinh. Đây là một trong những công trình sớm nhất về chữ viết Jrai.


Tập Từ vựng Jrai của Cha Guerlach (Cảnh) năm 1898- Nguồn MEP

Đầu thế kỷ XX, linh mục Gabriel Nicolas (Cận) tiếp tục biên soạn sách giáo lý dự tòng và nhiều kinh nguyện bằng tiếng Jrai với nhan đề Catéchisme en Jrai, góp phần hoàn thiện hệ chữ viết này.

Sách giáo lý tiếng Jrai của Cha Nicolas (Cận) năm 1908 – Nguồn: Gp. Kon Tum

4. Phát triển và ứng dụng chữ Quốc ngữ trên Tây Nguyên

Sau khi thụ phong linh mục (giữa năm 1852), Cha Phanxicô Do liền trở lại Kon Tum, chính thức thay thế Linh mục Desgouts phụ trách Trung tâm Truyền giáo Rơhai (Tân Hương ngày nay) từ năm 1853 đến 1872. Ngài tổ chức Rơhai không chỉ là nơi cử hành nghi lễ tôn giáo, mà còn là nơi hội họp, tĩnh tâm hàng tháng của các cha; nơi nghỉ dưỡng và thành như một “trường học” để dạy tiếng Việt cũng như tiếng Bahnar cho các thừa sai và thanh thiếu niên trong vùng[9].

Tiếp sau ngài là Cha Phêrô Nguyên phục vụ mấy trăm đồng hương người Kinh, nên nhu cầu học tập và ứng dụng chữ Quốc ngữ ngày càng tăng cao.

Bút tích chữ Quốc ngữ của Cha Nguyên năm 1882 trong Sổ rửa tội tại Giáo xứ Tân Hương

Song song với việc hình thành chữ viết các dân tộc bản địa, chữ Quốc ngữ cũng được phổ biến rộng rãi tại Tây Nguyên, như lớp học tại Kon Jơdreh do Thầy Hộ phụ trách (1870)[10]. Theo sách Mở Đạo Kon Tum, cuối năm 1884, Thầy Hương (sau là Cha Phanxicô Xaviê Hương) được cử lên Kon Tum và bắt đầu mở lớp dạy chữ Quốc ngữ cho trẻ em người Bahnar; tác giả nhận định: "Người Mọi khởi sự biết chữ là từ đó."[11]


Trường Kuenot khóa đầu tiên năm 1908 và Nhà in Kuenot thiết lập từ năm 1911


Tạp chí Hlabar Tơbang số 1 năm 1911

Bước sang thế kỷ XX, việc dạy học bằng chữ Quốc ngữ ngày càng phát triển. Năm 1908, Giáo phận thành lập trường đào tạo Yao Phu (thầy giảng người sắc tộc); năm 1911, Nhà in Cuénot Kon Tum được thiết lập và xuất bản nguyệt san Hlabar Tơbang; từ năm 1933 tiếp tục phát hành các nguyệt san bằng chữ Quốc ngữ như Chức Dịch Thơ Tín (Cha Phaolô Lê Đình Ban chủ bút). Nhiều trường học cũng lần lượt được mở: Trường Têrêxa dành cho nữ sinh Kinh và sắc tộc (1931) và Trường Saint Michel dành cho nam sinh tại giáo xứ Tân Hương (1941), v.v.


Sách kinh tiếng Bahnar in năm 1909, nhà in Làng Sông (Quinhon) và sách giáo lý song ngữ Việt – Bahnar, Lm. Martial Jannin, nhà in Kuenot, Kontum 1910

Điểm qua toàn bộ tiến trình từ năm 1848 đến đầu thế kỷ XX, có thể thấy sự hình thành các hệ chữ viết Latinh trên Tây Nguyên là kết quả của một quá trình lâu dài, bắt đầu từ nhu cầu truyền giáo nhưng nhanh chóng vượt ra ngoài phạm vi tôn giáo để trở thành phương tiện ghi chép ngôn ngữ, truyền bá tri thức và bảo tồn văn hóa các dân tộc bản địa. Trong tiến trình ấy, chữ Bahnar giữ vai trò tiên phong, là nền tảng cho sự ra đời của các hệ chữ viết Jrai và nhiều ngôn ngữ Tây Nguyên khác. Đồng thời, chữ Quốc ngữ cũng từng bước được phổ biến rộng rãi thông qua hệ thống trường học và các hoạt động xuất bản của Giáo phận Kon Tum.


Tác phẩm “Tuồng Sinh Nhựt” chữ quốc ngữ, nhà in Kuenot, Kontum 1912 và tiểu thuyết “Rừng xanh lưu lạc”, in trong “Chức dịch thơ tín” nhà in Kuenot năm 1936


KẾT: CÂY CẦU NỐI LIỀN ĐẠI NGÀN VÀ BIỂN LỚN

Nhìn lại dặm dài lịch sử, từ mái trường ngôn ngữ phôi thai ở Nước Mặn năm xưa đến trung tâm Rơhai ẩn mình giữa rừng già Tây Nguyên, di sản chữ viết hệ Latinh đã cắm rễ sâu vào lòng đời sống văn hóa Việt Nam. Chữ Quốc ngữ và các hệ chữ ký âm tiếng sắc tộc không còn là thứ công cụ thuần túy, mà đã trở thành "linh hồn" lưu giữ những trang sử, những bộ sử thi hùng vĩ và tri thức dân gian phương Nam.

Dòng chảy ấy là chứng nhân sống động cho tinh thần dung hợp văn hóa kiên cường của người Việt: biết tiếp nhận cái mới của thế giới để làm giàu cho bản sắc dân tộc mình; đồng thời là chứng tích về nhiệt tình và sáng kiến của tiền nhân trong nỗ lực loan báo Tin mừng. Bến cảng Nước Mặn nay đã thành hoài niệm, những buôn làng Tây Nguyên cũng đang đổi thay từng ngày, nhưng những dòng chữ Latinh mang hồn cốt Việt vẫn sẽ tiếp tục chảy mãi - như một nhịp cầu nối quá khứ với tương lai, nối đại ngàn bao la với biển lớn tri thức và tình yêu thương của nhân loại.

Tài liệu tham khảo:

1. Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ Quốc ngữ (1620-1659), Tủ sách Ra khơi, Sài Gòn 1972.

2. P. Dourisboure, Dân làng Hồ (NXB Đà Nẵng, 2008), Bản tiếng Việt của Tòa giám mục Kon Tum.

3. P. Dourisboure, Dictionnaire Bahnar-Français, Impr. de la Société des Missions Etrangères, Hongkong 1889.

4. P. Ban & S. Thiệt, Mở đạo Kontum, Imprimerie de Quinhon, 1933.

5. Phaolồ Hộ, Nhựt trình Địa sở Plei Rơhai, bản viết tay, 1912.

6. Ban biên soạn lịch sử Giáo phận Qui Nhơn, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, NXB Antôn & Đuốc sáng, 2017.

7. Nguyễn Thanh Quang & Lm Gioan Võ Đình Đệ, Dòng chảy chữ Quốc ngữ trong văn hóa Việt, NXB Thế giới, 2024.

(Bài tham luận Tọa đàm “Nước Mặn và chữ Quốc ngữ qua dòng thời gian”, Quy Nhơn 29/9/2026)

Tác giả: Lê Minh Sơn

 


[1] Giáo sư Phan Huy Lê, Tổng kết Hội thảo khoa học “Bình Định với chữ Quốc ngữ”, ngày 13/01/2016 tại Qui Nhơn, Bình Định. (x. Nguyễn Thanh Quang & Linh mục Gioan Võ Đình Đệ, Dòng chảy chữ Quốc ngữ trong văn hóa Việt, tr. 35).

[2] x. Nguyễn Thanh Quang – Linh mục Gioan Võ Đình Đệ, Dòng chảy chữ Quốc ngữ trong văn hóa Việt, NXB Thế giới, 2024.

[3] x. Đức cha Đamianô, "Thơ chung về sự thành lập trường Quấc ngữ", Mémorial de Quinhon, Mai 1924, trang 67-69.

[4] P. Dourisboure, Dân Làng Hồ. NXB Đà Nẵng, 2018, tr. 16-17.

[5] P. Dourisboure, sđd, tr. 278.

[6] Dourisboure, sđd, tr. 77-79.

[7] Dourisboure, sđd, tr. 122.

[8] R.P. Tardieu, Hạnh Đức Cha Thể & Thầy Phaolồ Hộ, Nhựt trình địa sở Plei Rơhai.

[9] P. Ban và S. Thiệt, Mở Đạo Kon Tum, Nhà in Qui Nhơn năm 1933, tr. 59; 84.

[10] x. Phaolồ Hộ, Nhựt trình địa sở Plei Rơhai, 1912

[11] P. Ban và S. Thiệt, Mở Đạo Kon Tum, Nhà in Qui Nhơn năm 1933, tr. 222-224.