DẪN NHẬP

CHƯƠNG I - SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH NỀN TỪ ĐIỂN HỌC QUỐC NGỮ

Dẫn nhập

I. SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO: KHỞI ĐI TỪ THIÊN CHÚA, HƯỚNG ĐẾN CON NGƯỜI

1. Sứ mạng đến từ Thiên Chúa

2. Theo con đường lịch sử cứu độ

3. Trong chọn lựa “hội nhập văn hóa”

II. NGÔN NGỮ: CON ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN CỦA HỘI NHẬP VĂN HÓA

1. Khi Tin mừng trở thành “Lời nhập thể”

2. Truyền giáo: những “tiếng hô dọn đường”

3. Những vị “tiền hô” qua dòng lịch sử

III. TỪ VIỆC HỌC TIẾNG VIỆT ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH NỀN TỪ ĐIỂN HỌC

1. Tiếng “mẹ đẻ” và những bước chân đầu tiên

2. Hiệu quả kép: loan Tin mừng và hiểu văn hóa

Kết

CHƯƠNG II - THẾ HỆ KHAI SÁNG NHỮNG NHÀ THỪA SAI DÒNG TÊN ĐẶT NỀN MÓNG CHO TỪ ĐIỂN HỌC TIẾNG VIỆT

Dẫn nhập

I. NHỮNG “TƯỢNG ĐÀI KHAI PHÁ”

1. Francisco de Pina: người khai mở phương pháp nghiên cứu tiếng việt

2. Gaspar do Amaral và António Barbosa: từ những bản thảo đến hệ thống từ vựng

3. Buzomi – Cristoforo Borri: cư sở Nước Mặn, nơi phôi thai chữ Quốc ngữ

II. NHÂN VẬT VÀ CÔNG TRÌNH “TẬP ĐẠI THÀNH”

1. Alexandre de Rhodes: người tổng hợp và công bố một di sản

2. Từ "Việt–Bồ–La" đến sự khai sinh của một truyền thống khoa học

Kết

CHƯƠNG III - TỪ TỪ ĐIỂN ĐẾN VĂN HỌC KIỆN TOÀN NỀN TỪ ĐIỂN HỌC VÀ MỞ RA VĂN HỌC QUỐC NGỮ

Dẫn nhập

I. TỪ DI SẢN CỦA ALEXANDRE DE RHODES ĐẾN BẢN THẢO BỘ TỪ ĐIỂN MỚI CỦA PIGNEAU DE BÉHAINE

1. Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc): người đặt nền cho cuộc kiện toàn từ điển học tiếng Việt

2. Philipphê Bỉnh – người gìn giữ và tiếp nối di sản từ điển học Quốc ngữ - Cầu nối giữa Dòng Tên – Đàng Ngoài và MEP Đàng Trong

II. JEAN-LOUIS TABERD: NGƯỜI ĐƯA NỀN TỪ ĐIỂN HỌC TIẾNG VIỆT ĐẾN ĐỘ CHÍN MUỒI

1. Không phải “một” mà “hai”: Giới thiệu Từ điển Taberd 1838

2. Một bộ từ điển ra đời ngoài biên giới Việt Nam nhưng thuộc về lịch sử văn hóa Việt Nam

3. Một công trình của sự kế thừa và cộng tác

4. Từ kiện toàn ngôn ngữ đến kiện toàn phương pháp

5. Một tầm nhìn vượt khỏi phạm vi ngôn ngữ

6. Khi từ điển bắt đầu kể câu chuyện của một dân tộc

III. LINH MỤC PHAN VĂN MINH: NHỊP CẦU TRÍ THỨC GIỮA CÁC THẾ HỆ THỪA SAI VÀ HỌC GIẢ VIỆT NAM

1. Linh mục Phan Văn Minh – một học giả của hai truyền thống

2. Từ người cộng tác đến đồng kiến tạo tri thức

3. Một biểu tượng của sự hội nhập văn hóa

IV. INÊ TỬ ĐẠO VÃN: KHOẢNH KHẮC CHỮ QUỐC NGỮ BƯỚC VÀO VĂN HỌC

1. Một "phụ lục" làm thay đổi ý nghĩa của cả bộ từ điển

2. Vì sao lại là thể thơ lục bát?

3. Từ ngôn ngữ đến văn học

4. Một bài thơ – bốn ngôn ngữ

Kết: Một cách nhìn mới về bộ từ điển Taberd

CHƯƠNG IV - TRUYỀN THỐNG TỪ ĐIỂN HỌC TRUYỀN GIÁO GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Dẫn nhập

1. M.H. RAVIER – Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (1880)

2. Jean-François-Marie Génibrel: người hoàn thiện truyền thống từ điển học truyền giáo

3. J. Masseron: tiếp nối và cập nhật truyền thống

4. Những đóng góp âm thầm của nhiều thế hệ thừa sai

5. Cuốn từ điển cuối cùng của thừa sai Công giáo

Kết

CHƯƠNG V - TRUYỀN THỐNG TỪ ĐIỂN HỌC: DI SẢN VÀ SỰ CHUYỂN GIAO

Dẫn nhập

I. MỘT CON NGƯỜI – MỘT TÁC PHẨM – MỘT ĐIỂM BẢN LỀ: PAULUS CỦA VÀ ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ

1. Paulus Huình Tịnh Của – một con người đứng giữa hai thế giới văn hóa

2. Đại Nam quấc âm tự vị – một công trình có tính bước ngoặt

3. “Quấc âm” – một lựa chọn mang ý nghĩa văn hóa

4. Điểm bản lề: từ “di sản” đến “chuyển giao”

II. MỘT TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ – MỘT SỰ CHUYỂN GIAO: TỪ DI SẢN THỪA SAI ĐẾN NỀN TỪ ĐIỂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1. Từ từ điển song ngữ đến ý thức về tiếng Việt như một ngôn ngữ tự thân

2. Huình Tịnh Của – điểm chuyển từ di sản thừa sai sang chủ thể Việt Nam

3. Từ di sản truyền giáo đến di sản văn hóa: quá trình tiếp biến và trưởng thành

4. Từ “người học tiếng Việt” đến “người định hình tri thức về tiếng Việt”

5. Từ “di sản thừa sai” đến “nền từ điển học Việt Nam”

Kết

KẾT LUẬN CHUNG

THƯ MỤC THAM KHẢO


BA THẾ KỶ TỪ ĐIỂN HỌC QUỐC NGỮ

DI SẢN VĂN HÓA CỦA CÁC THẾ HỆ THỪA SAI CÔNG GIÁO

___________

Từ “Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum” (1651)

đến “Petit dictionnaire annamite-français” (1950)

(Nhân kỷ niệm 375 năm cuốn Tự điển Việt - Bồ - La: 1651 - 2026

và 130 năm cuốn Đại Nam quấc âm tự vị: 1896 - 2026)


Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum  (1651 - 2026)

Đại Nam Quấc âm tự vị (1896 - 2026)

 

DẪN NHẬP

Khi nghiên cứu lịch sử về lãnh vực văn hóa tại Việt Nam từ sau thế kỷ 16, nhiều bậc thức giả đã cho rằng: ít có lĩnh vực nào phản ánh rõ nét sự gặp gỡ giữa đức tin Kitô giáo và văn hóa bản địa như lịch sử hình thành chữ Quốc ngữ và nền từ điển học tiếng Việt.

Quả thật, nếu chữ Quốc ngữ được ví như chiếc cầu đưa tiếng Việt bước vào thời kỳ hiện đại, thì các bộ từ điển do các thế hệ thừa sai Công giáo biên soạn chính là những viên đá đầu tiên đặt nền cho chiếc cầu ấy. Trải qua gần ba thế kỷ, từ thời phôi thai chữ Quốc ngữ ở thế kỷ XVII cho đến giữa thế kỷ XX, các công trình từ điển học ấy đã góp phần hình thành một truyền thống học thuật độc đáo, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử ngôn ngữ, văn hóa và học thuật Việt Nam, như khẳng quyết của một chuyên gia về ngành từ điển học:

“… kể từ khi Từ điển Việt-Bồ-La được in ấn lần đầu, quyển từ điển cho đến nay vẫn là một kho lưu trữ vô cùng quý giá về ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử của nước ta ở thời kỳ này. Có thể khẳng định đây là nguồn ngữ liệu to lớn, để các nhà ngôn ngữ học, nhà văn hóa học nghiên cứu về nhiều phương diện của tiếng Việt và văn hóa nước ta ở thế kỷ XVII”[1].

Tuy nhiên, sẽ là một thiếu sót nếu chỉ nhìn các bộ từ điển này như những công trình ngôn ngữ học đơn thuần. Trên thực tế, không một nhà truyền giáo nào đến Việt Nam với mục đích trở thành nhà ngôn ngữ học hay nhà từ điển học. Các ngài đến với một sứ mạng duy nhất: loan báo Tin mừng của Đức Giêsu Kitô. Chính nhu cầu giảng dạy giáo lý, cử hành phụng vụ, giải tội, đào tạo các thầy giảng, huấn luyện hàng giáo sĩ bản địa và đối thoại với người Việt đã thôi thúc các ngài học tiếng Việt, ghi âm tiếng Việt, hệ thống hóa tiếng Việt và cuối cùng biên soạn những bộ từ điển đầu tiên[2].

Nói cách khác, nền từ điển học tiếng Việt không ra đời từ bàn giấy của các học giả, nhưng được thai nghén trên những nẻo đường truyền giáo. Đó là chứng từ, là dấu vết của những cuộc gặp gỡ giữa các nhà truyền giáo với người dân Việt Nam; giữa Tin mừng và văn hóa; giữa truyền thống học thuật phương Tây và tiếng nói bản địa. Chính trong tiến trình đối thoại ấy, tiếng Việt từng bước được khảo sát, ghi chép, chuẩn hóa và giới thiệu với thế giới qua mẫu tự Latinh[3].

Nhân dịp kỷ niệm 375 năm xuất bản[4] cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (1651–2026) tại Rôma[5] và 130 năm xuất bản cuốn Đại Nam quấc âm tự vị (Tome II) (1896-2026) tại Sài Gòn , chuyên khảo này không chỉ nhằm tri ân công lao của các thế hệ thừa sai Công giáo đối với sự hình thành và phát triển của chữ Quốc ngữ, nhưng còn mong muốn góp phần nhận diện một cách hệ thống di sản từ điển học mà các ngài đã để lại cho dân tộc Việt Nam. Đó là một di sản được hình thành từ sứ mạng loan báo Tin mừng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ và cuối cùng đã trở thành một phần không thể tách rời của lịch sử ngôn ngữ, văn hóa và học thuật Việt Nam.

Để làm sáng tỏ luận đề trên, chuyên khảo này được triển khai qua năm nội dung hay chủ đề sau:

- Chương I. Sứ mạng loan báo Tin mừng và sự hình thành nền từ điển học Quốc ngữ.

- Chương II. Thế hệ khai sáng: Những nhà thừa sai Dòng Tên đặt nền móng cho từ điển học tiếng việt

- Chương III. Từ từ điển đến văn học:Kiện toàn nền từ điển học và mở ra văn học quốc ngữ

- Chương IV. Truyền thống từ điển học truyền giáo: Giai đoạn hội nhập quốc tế (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX).

- Chương V. Truyền thống từ điển học: di sản và sự chuyển giao.

 

CHƯƠNG I - SỨ MẠNG LOAN BÁO TIN MỪNG VÀ SỰ HÌNH THÀNH NỀN TỪ ĐIỂN HỌC QUỐC NGỮ

"Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta." (Ga 1,14)

Dẫn nhập

Lịch sử chữ Quốc ngữ và nền từ điển học tiếng Việt, có thể nói được, là một phần không thể tách rời của lịch sử ngôn ngữ học hoặc lịch sử văn hóa Việt Nam. Cách tiếp cận ấy hoàn toàn chính đáng, bởi những thành tựu mà các bộ từ điển đầu tiên để lại đã góp phần quan trọng vào quá trình chuẩn hóa tiếng Việt và hình thành chữ Quốc ngữ hiện đại. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở bình diện ngôn ngữ học, người nghiên cứu sẽ khó lý giải được một câu hỏi căn bản: vì sao những công trình từ điển học đầu tiên của tiếng Việt lại được thực hiện không phải bởi các học giả bản địa, mà bởi các nhà thừa sai đến từ phương Tây?

Câu trả lời không nằm trước hết ở khoa học ngôn ngữ, nhưng ở chính bản chất của sứ mạng truyền giáo. Những người đầu tiên đặt nền móng cho nền từ điển học tiếng Việt, có thể nói được, là những thừa sai – những người được Giáo Hội sai đi để loan báo Tin mừng của Đức Giêsu Kitô, Đấng mà thánh sử Gioan đã định nghĩa là "Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta." (Ga 1,14). Chính sứ mạng ấy đã đưa họ đến chỗ phải học tiếng Việt, phải khám phá cấu trúc của ngôn ngữ này, phải tìm cách ghi lại âm thanh của nó bằng mẫu tự Latinh, rồi tiến tới việc hệ thống hóa từ vựng và biên soạn những bộ từ điển đầu tiên.

Điều đó đã cho thấy rằng: nguyên tắc chuẩn mực mà thần học hay triết học ngàn đời (Philosophia perennis)[6] của Hội thánh Công giáo vẫn chọn lựa, đặc biệt, từ nền “Triết học Kinh viện” (Scholastic philosophy)[7]: học thuật và thần học, lý trí và đức tin không bao giờ triệt tiêu nhưng cùng liên kết để đạt tới sự thật tối hậu, như lời dạy của thánh Tiến sĩ Tôma Aquinô[8] trong Bộ Tổng luận thần học (Summa theologiae)[9]:

“Tất cả sự chắc chắn của các ân huệ hiểu biết và tri thức đều bắt nguồn từ sự chắc chắn của đức tin.”[10]

“Cũng như soi sáng thì tốt hơn chỉ tự mình chiếu sáng, thì trao cho người khác những hoa trái của sự chiêm niệm cũng tốt hơn là chỉ chiêm niệm cho riêng mình.”[11]

Đây không là chuyện “tùy nghi” hay sự “đối phó ngẫu hứng” để đáp ứng tức thời các đòi hỏi thực tế, mà là chính là một “định hướng”, một “chỉ thị” mang tính “mệnh lệnh của Huấn Quyền”, như được ghi rõ trong “MONITA AD MISSIONARIOS”[12]:

“Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta đã không sai các thánh Tông đồ đi rao giảng Tin mừng khắp thế gian mà không trước tiên ban cho các ngài ơn nói các thứ tiếng (Cv 2,4). Điều đó rõ ràng cho thấy sứ vụ rao giảng kéo theo sự cần thiết học các thứ tiếng, bởi vì Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan của Ngài, đã muốn rằng đức tin lan truyền bằng phương thức rao giảng. Thật vậy, “Ấy vậy, tin là do bởi đã được nghe, còn nghe là nhờ việc rao giảng Lời Đức Kitô” (Rm 2,17) (…). Gương thánh Phanxicô Xaviê cho thấy khá rõ: ngay cả khi được sự trợ giúp của người thông dịch khéo nhất, vị thừa sai cũng ít thành công, nếu chính ngài không tinh thông ngôn ngữ của xứ đó (Tursel., Vita S.Fr. Xav., lib. 7, c. 2). Và ngài sẽ không được quên là đừng nhằm vào việc học ngôn ngữ bác học và văn chương đến mức mà xao nhãng ngôn ngữ bình dân được quảng đại dân chúng sử dụng, ngài phải làm cho, không chỉ những nhà thông thái mà cả những người thất học cũng có thể hiểu ngài nói. Trong toàn bộ việc này, vả lại, ngài sẽ phải trông chờ nhiều hơn vào sự cầu nguyện hơn là chính việc học của mình” [13].

Nhìn từ góc độ ấy, có thể nói rằng lịch sử từ điển học tiếng Việt không phát sinh bên ngoài lịch sử truyền giáo, nhưng là một phần hữu cơ của lịch sử truyền giáo tại Việt Nam. Các bộ từ điển không chỉ là những công cụ ngôn ngữ học, mà còn là những chứng tích của một tiến trình hội nhập văn hóa, trong đó việc học ngôn ngữ trở thành điều kiện thiết yếu để Tin mừng được cắm rễ trong lòng một dân tộc, như giáo lý của tông huấn “Niềm vui của Tin mừng” (Evangelii gaudium – Viết tắt: EG)[14]:

“Dân Thiên Chúa được nhập thể giữa các dân tộc trên thế giới, mỗi dân tộc với nền văn hoá riêng của mình… Ân sủng đòi hỏi văn hoá, và ân huệ của Thiên Chúa được nhập thể trong nền văn hoá của những ai đón nhận ân huệ ấy… “trong khi hoàn toàn trung thực với mình, vững vàng trung thành với việc rao giảng Tin mừng và truyền thống của Hội thánh, Kitô giáo cũng phản ánh những bộ mặt khác nhau của các nền văn hoá và các dân tộc đã tiếp nhận nó và làm cho nó bén rễ”… Nơi các tập tục của một dân tộc đã được phúc âm hoá, Chúa Thánh Thần trang điểm Hội thánh, chỉ cho Hội thánh thấy những khía cạnh mới của mặc khải và ban cho Hội thánh một bộ mặt mới… Bằng cách này, Hội thánh đón nhận những giá trị của các nền văn hoá khác nhau và trở thành sponsa ornata monilibus suis, ‘cô dâu được trang điểm lộng lẫy’ (xem Is 61:10)” (EG 115-116).

I. SỨ MẠNG TRUYỀN GIÁO: KHỞI ĐI TỪ THIÊN CHÚA, HƯỚNG ĐẾN CON NGƯỜI

1. Sứ mạng đến từ Thiên Chúa

Trong truyền thống đức tin Kitô giáo, truyền giáo không là chuyện của loài người nhưng chính là một sứ mạng bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi. Sắc lệnh Truyền giáo (Ad Gentes – Viết tắt AG) của Công đồng Vaticanô II đã xác quyết rằng: "Tự bản chất, Giáo Hội lữ hành là truyền giáo, vì chính Giáo Hội phát sinh từ sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần theo ý định của Thiên Chúa Cha." (Ad Gentes, số 2). Khẳng định này đặt nền tảng cho toàn bộ thần học truyền giáo hiện đại. Nguồn gốc của mọi hoạt động truyền giáo không nằm ở sáng kiến của con người, nhưng trong chính đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi, trong ý định cứu độ của Thiên Chúa:

“Từ muôn thuở, Chúa Cha “đã kêu gọi và tiền định để họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Ngài để Người Con Một trở nên trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29) (…) Như thế, Chúa Con được sai đến từ nơi Chúa Cha, Đấng đã tuyển chọn chúng ta trong Con của Ngài trước cả khi tạo dựng vũ trụ, và tiền định cho chúng ta làm nghĩa tử, vì muốn qui tụ muôn loài trong Đức Kitô” (x. Ep 1,4-5.10).(Hiến chế Giáo Hội – Lumen Gentium - LG số 2,3).

2. Theo con đường lịch sử cứu độ

Để thực thi công cuộc hay sứ mạng vĩ đại và thiêng thánh này, Chúa Cha sai Chúa Con vào trần gian; Chúa Con, sau khi hoàn tất công trình cứu độ, sai Chúa Thánh Thần xuống trên các Tông đồ; và từ đó, Giáo Hội tiếp tục thi hành sứ mạng ấy trong lịch sử dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Sắc lệnh về Truyền giáo của Công đồng Vaticanô II đã dạy:

“Vì thế, vâng lệnh Chúa Kitô đồng thời được ân sủng và tình yêu Chúa Thánh Thần thúc đẩy, Giáo Hội thực thi sứ mệnh, khi thực sự hiện diện giữa mọi người và mọi dân tộc, bằng cách hoạt động để nhờ gương mẫu đời sống, lời giảng dạy, các bí tích và những phương thế trao ban ân sủng khác, dẫn đưa tất cả đến với đức tin, đón nhận ơn giải thoát và bình an của Chúa Kitô, nhờ đó mở ra con đường thông suốt và vững chắc giúp họ thông dự trọn vẹn vào mầu nhiệm Chúa Kitô.” (Sắc lệnh về Truyền giáo – Ad gentes - AG số 5).

3. Trong chọn lựa “hội nhập văn hóa”

Trong viễn tượng ấy, người thừa sai không phải là người mang một nền văn hóa đến thay thế nền văn hóa khác, nhưng là người được sai đi để làm chứng cho Đức Kitô giữa lòng các dân tộc. Muốn thực hiện sứ mạng ấy, họ phải bước vào thế giới của những người mình được sai đến, học ngôn ngữ của họ, hiểu lối suy nghĩ của họ và chia sẻ đời sống của họ. Truyền giáo, vì thế, không thể tách rời tiến trình hội nhập văn hóa. Công đồng Vaticanô II đã phán dạy rõ trong Sắc lệnh về Truyền giáo:

- “Bởi vậy, tất cả những gì tốt đẹp đã được gieo vãi trong tâm hồn con người, hoặc trong những nghi lễ và văn hóa đặc thù của các dân tộc, sẽ không bị hủy bỏ, nhưng được chữa lành, thăng tiến và hoàn thiện để Thiên Chúa được tôn vinh, ma quỷ phải nhục nhã và con người được hạnh phúc.” (Ad gentes số 9).

- “Thật vậy, khi đến với dân tộc nào, phải thật sự quý trọng di sản, tiếng nói và phong tục của dân tộc đó” (Ad gentes số 16).

II. NGÔN NGỮ: CON ĐƯỜNG ĐẦU TIÊN CỦA HỘI NHẬP VĂN HÓA

1. Khi Tin mừng trở thành “Lời nhập thể”

Trong toàn bộ lịch sử Kitô giáo, mỗi bước tiến của công cuộc truyền giáo đều gắn liền với việc tiếp cận ngôn ngữ bản địa. Ngay từ thời các Tông đồ, biến cố Ngũ Tuần (Cv 2,1–11) đã mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc: Tin mừng không được công bố bằng một thứ ngôn ngữ độc tôn, nhưng được nghe "mỗi người theo tiếng mẹ đẻ của mình" (Cv 2,8). Đây không chỉ là một phép lạ, mà còn là một định hướng thần học: Thiên Chúa muốn gặp gỡ con người trong chính ngôn ngữ và nền văn hóa của họ.

Thật vậy, Kinh thánh chính là Lời Chúa; mà Lời Chúa trong ngôn ngữ của Thánh sử Gioan đó chính Ngôi Hai Thiên Chúa, Đức Kitô – “Lời hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta” (Ga 1,14); cũng vậy, trong ngôn ngữ của Thư Do Thái, Đức Kitô chính là “Lời cuối cùng”, “Lời chóp đỉnh” trong tiến trình “phán dạy” hay “mạc khải” của Thiên Chúa:

“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1-2).

2. Truyền giáo: những “tiếng hô dọn đường”

Trong khi đó, chúng ta đừng quên: Thánh Gioan Tiền hô đã tự nhận mình là “tiếng hô trong hoang mạc” (Ga 1,23) để dọn đường cho dân Do Thái đón nhận “Lời”. Khi ám chỉ mình là “tiếng hô” điều đó cũng có nghĩa là ngài đã dùng ngôn ngữ của quê hương ngài để giới thiệu Đức Kitô. Như thế, một cách nào đó, chúng ta, các thừa sai, các nhà truyền giáo, cũng đều là những “tiếng hô”. Bởi lẽ, chúng ta đã dùng ngôn ngữ Việt Nam, tiếng Việt Nam để chuyển tải Lời Chúa cho dân tộc Việt chúng ta, như cách so sánh của Thánh Giáo phụ Augustinô:

“Như vậy, khi tìm cách làm thế nào để lời đã có trong tâm hồn tôi chuyển đến bạn và ở lại trong tâm hồn bạn, tôi dùng tiếng, và bằng tiếng ấy tôi nói với bạn: âm của tiếng chuyển tới bạn ý tưởng của lời; và khi âm của tiếng chuyển tới bạn ý tưởng của lời rồi, thì chính âm đó qua đi, nhưng lời do âm chuyển đến bạn thì vẫn ở lại trong tâm hồn bạn mà không rời bỏ tâm hồn tôi” (Bài Đọc II Giờ Kinh Sách CN III MV).

3. Những vị “tiền hô” qua dòng lịch sử

Nguyên tắc ấy tiếp tục được thể hiện trong suốt lịch sử Giáo Hội. Thánh Giêrônimô[15] dịch Kinh thánh sang tiếng Latinh; hai thánh Cyrillô và Mêtôđiô[16] sáng tạo mẫu tự Slavơ để truyền giáo cho các dân tộc Đông Âu; Matteo Ricci[17] học tiếng Hán để đối thoại với giới trí thức Trung Hoa; Roberto de Nobili[18] sử dụng tiếng Tamil và tiếng Phạn trong công cuộc truyền giáo tại Ấn Độ. Tất cả đều cho thấy rằng ngôn ngữ không chỉ là phương tiện giao tiếp, mà còn là nhịp cầu của sự gặp gỡ giữa Tin mừng và văn hóa.

Đừng quên, chính Đức thánh Giáo hoàng Phaolô VI đã truyền dạy nguyên tắc này trong tông huấn Evangelii Nuntiandi (Loan báo Tin mừng)[19]:

“Các Giáo hội địa phương vì hòa hợp sâu xa với con người, với cả những khát vọng, những phong phú và giới hạn của nó, với những cách cầu nguyện, yêu thương, với những lối nhìn cuộc đời và thế giới, nghĩa là với tất cả những gì tiêu biểu cho một xã hội nhân loại nào đó, do đó các Giáo Hội địa phương phải hấp thụ những điểm cốt yếu của Tin mừng rồi trung thực chuyển sang ngôn ngữ mà những người trong xã hội đó hiểu được, và sau đó loan báo Tin mừng bằng chính ngôn ngữ này.” (EN số 63).

Các nhà thừa sai đến Việt Nam trong thế kỷ XVII cũng đứng trước cùng một đòi hỏi như thế. Muốn giảng đạo, cử hành phụng vụ, giải thích giáo lý và đào tạo cộng đoàn địa phương, họ không thể chỉ dựa vào thông ngôn. Họ phải trực tiếp học tiếng Việt. Chính nhu cầu mục vụ rất cụ thể ấy đã mở đầu cho một hành trình nghiên cứu ngôn ngữ chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.

III. TỪ VIỆC HỌC TIẾNG VIỆT ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH NỀN TỪ ĐIỂN HỌC

1. Tiếng “mẹ đẻ” và những bước chân đầu tiên

Trong những năm đầu truyền giáo, việc học tiếng Việt chủ yếu dựa trên giao tiếp hằng ngày với người bản địa. Tuy nhiên, muốn bảo đảm tính liên tục của sứ mạng, cần phải ghi lại cách phát âm, hệ thống hóa từ vựng và xác lập những quy tắc ngữ pháp căn bản. Nhà nghiên cứu về lịch sử chữ Quốc ngữ - nữ Tiến sĩ Phạm Thị Kiều Ly đã minh chứng điều nói trên bằng những con số cụ thể chỉ trong phạm vi nhân sự của các thừa sai Dòng Tên:

“Kể từ thời François Xavier cho đến khi Dòng Tên bị giải thể (tạm thời) vào năm 1773, các giáo sĩ Dòng Tên đã soạn 164 cuốn tự điển, 165 cuốn văn phạm, 167 cuốn giáo lý và 430 văn bản bằng 134 ngôn ngữ và 6 phương ngữ”[20].

Chính từ nhu cầu ấy, những bảng từ đầu tiên, những ghi chép ngữ âm sơ khai và những bản thảo từ điển song ngữ bắt đầu xuất hiện. Chúng không phải là sản phẩm của một chương trình nghiên cứu hàn lâm, mà là kết quả trực tiếp của đời sống mục vụ: một từ mới được ghi lại để giảng giáo lý chính xác hơn; một cách diễn đạt được lưu giữ để giúp các thừa sai mới học tiếng Việt nhanh hơn; một thuật ngữ được giải thích để tránh hiểu lầm trong việc trình bày đức tin.

2. Hiệu quả kép: loan Tin mừng và hiểu văn hóa

Ở đây có thể nhận ra một quy luật đáng chú ý: càng dấn thân vào sứ mạng truyền giáo, các nhà thừa sai càng trở thành những nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Không phải vì họ muốn xây dựng một ngành khoa học mới, nhưng vì chính sứ mạng buộc họ phải hiểu sâu hơn ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc mà họ phục vụ.

Đó cũng là lý do giải thích vì sao những bộ từ điển đầu tiên của tiếng Việt mang một đặc điểm rất riêng: chúng luôn kết hợp giữa yêu cầu mục vụ và tinh thần khoa học. Chính sự kết hợp ấy đã tạo nên một truyền thống từ điển học đặc sắc, mang chiều kích hội nhập văn hóa vừa sâu sắc vừa sinh động.

Kết

Lịch sử từ điển học tiếng Việt không khởi đầu từ một dự án ngôn ngữ học, mà từ một đòi hỏi nội tại của sứ mạng truyền giáo. Chính vì thế, các bộ từ điển đầu tiên không chỉ đánh dấu sự khai sinh của một truyền thống học thuật mới, mà còn phản ánh một nguyên lý căn bản của thần học truyền giáo: loan báo Tin mừng luôn đòi hỏi sự tôn trọng ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc được loan báo, cả ngôn ngữ văn chương hàn lâm bác học, lẫn tiếng nói của bình dân quảng đại quần chúng như MONITA khuyên nhủ:

“Cho nên, vị thừa sai sẽ không chán mà phải chuyên chú vào công việc này, bao lâu mà sự cần thiết đòi hỏi. Và ngài sẽ không được quên là ngài chỉ nhằm vào việc học ngôn ngữ bác học và văn chương đến mức mà xao nhãng ngôn ngữ bình dân được quảng đại dân chúng sử dụng, ngài phải làm cho, không chỉ những nhà thông thái mà cả những người thất học cũng có thể hiểu ngài nói.”[21]

Khi nào Hội thánh trung thành với những nguyên tắc nền tảng đó, công cuộc loan báo Tin mừng của Hội thánh sẽ mang lại kết quả như lòng Chúa mong ước…

 

CHƯƠNG II - THẾ HỆ KHAI SÁNG NHỮNG NHÀ THỪA SAI DÒNG TÊN ĐẶT NỀN MÓNG CHO TỪ ĐIỂN HỌC TIẾNG VIỆT

"Tôi đã sử dụng công trình của hai cha Gaspar do Amaral và António Barbosa..." — Alexandre de Rhodes, Lời tựa (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, Roma, 1651).

Dẫn nhập

Trong nhiều công trình nghiên cứu, lịch sử chữ Quốc ngữ thường được gắn với một tên tuổi nổi bật là Alexandre de Rhodes (1593-1666)[22]. Không thể phủ nhận vai trò đặc biệt của vị thừa sai Dòng Tên này trong việc xuất bản cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum tại Rôma năm 1651. Tuy nhiên, nếu quy toàn bộ công trình khai sáng nền từ điển học tiếng Việt cho một cá nhân, chúng ta sẽ vô tình làm lu mờ vai trò của cả một thế hệ những người đi trước và những người đồng hành.[23]

Điều đáng quý là chính Alexandre de Rhodes đã không nhận mình là người khởi đầu tuyệt đối. Trong lời tựa của cuốn từ điển, ngài minh nhiên tri ân Francisco de Pina, Gaspar do Amaral và António Barbosa, những người đã đặt nền móng bằng việc học tiếng Việt, biên soạn các bản thảo từ điển song ngữ và truyền lại một phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ. Lời tri ân ấy không chỉ là một cử chỉ khiêm tốn cá nhân, mà còn cho thấy bản chất cộng đồng của công trình từ điển học đầu tiên.[24]

Vì vậy, lịch sử của giai đoạn khai sáng không nên được hiểu như lịch sử của một thiên tài đơn độc, nhưng như lịch sử của một cộng đoàn thừa sai với những cộng tác viên của người Việt cùng lao động trên một công trình chung:[25]

“Chữ Quốc ngữ là một thành tựu văn hóa đã bén rễ sâu rộng trong đời sống, xã hội Việt Nam. Khởi đầu là sự dày công mày mò của các thừa sai Dòng Tên làm việc truyền giáo ở Đại Việt cách nay hơn 400 năm. Với sự trợ giúp của người Việt, các thừa sai sáng kiến dùng mẫu tự gốc Latin để ghi âm tiếng Việt. Lúc khởi đầu, mỗi người ghi âm theo cách cảm nhận tự nhiên của mình, trải qua thời gian việc ghi âm ấy dần dần được chắt lọc, đi vào điển chế và hoàn thiện. Đến nay vấn đề đã ngã ngũ rằng: Chữ Quốc ngữ là một công trình tập thể, trong đó có cả người phương Tây và cả người Việt. Không thể có “Ông tổ duy nhất” của chữ Quốc ngữ”[26]

Từ những ghi chép ngữ âm ban đầu đến cuốn Việt–Bồ–La năm 1651 là kết quả của hơn ba thập niên cộng tác, kế thừa và hoàn thiện liên tục. Chính truyền thống cộng tác ấy đã đặt nền móng cho ba thế kỷ phát triển của nền từ điển học tiếng Việt.

I. NHỮNG “TƯỢNG ĐÀI KHAI PHÁ”

1. Francisco de Pina: người khai mở phương pháp nghiên cứu tiếng việt

Trong lịch sử truyền giáo Việt Nam, Francisco de Pina (1585–1625)[27] thường được biết đến như một trong số những người Âu châu đầu tiên thông thạo tiếng Việt đến mức có thể giảng thuyết trực tiếp mà không cần thông ngôn[28]. Tuy nhiên, đóng góp của ngài còn sâu xa hơn thế. Chính Pina là người đầu tiên nhận ra rằng muốn truyền giáo bền vững thì không thể chỉ học những câu giao tiếp thông dụng, mà phải khám phá cấu trúc nội tại của ngôn ngữ Việt.[29]

Đối với các nhà truyền giáo đến từ ngoại quốc đầu thế kỷ XVII, tiếng Việt là một thách đố đặc biệt. Đây là một ngôn ngữ đơn lập, giàu thanh điệu, khác hẳn các ngôn ngữ biến hình ở châu Âu. Việc phân biệt sáu thanh, nhận diện các nguyên âm, phụ âm và quy luật phát âm đòi hỏi không chỉ khả năng ngôn ngữ mà còn một phương pháp quan sát khoa học. Chính trong quá trình ấy, Pina bắt đầu thử nghiệm việc sử dụng mẫu tự Latinh để ghi lại âm tiếng Việt, đặt nền cho hệ thống phiên âm sẽ được các thế hệ kế tiếp tiếp tục hoàn thiện.

Đáng tiếc, phần lớn các bản thảo của Pina không còn lưu giữ được. Tuy nhiên, những lời chứng của Alexandre de Rhodes và các đồng sự cho thấy ảnh hưởng của ngài rất sâu rộng. Nếu ví nền từ điển học tiếng Việt như một ngôi nhà, thì Francisco de Pina chính là người đặt những viên đá móng đầu tiên, tuy phần lớn đã chìm khuất dưới nền móng của công trình hoàn chỉnh.

Nhìn dưới góc độ thần học truyền giáo, di sản lớn nhất của Pina không chỉ là phương pháp học tiếng Việt, mà còn là một nguyên tắc mục vụ vẫn còn nguyên giá trị: người thừa sai trước hết phải là người biết lắng nghe. Việc học ngôn ngữ không nhằm áp đặt một hệ thống tư tưởng ngoại lai, nhưng là biểu hiện của sự tôn trọng đối với con người và nền văn hóa mà mình được sai đến phục vụ.

“Huấn thị 1659”[30] của Thánh Bộ truyền bá đức tin đã ân cần lưu ý các Vị Đại diện Tông Tòa khi thi hành sứ vụ tại Á Châu phải nghiêm túc thực thi nguyên tắc ứng xử mục vụ này:

“Có gì vô lý bỉ ổi hơn mang theo cả nước Pháp, Tây Ban Nha, nước Ý, hay bất cứ nước nào khác bên trời Âu sang cho chăng? Không phải mang thứ ấy đến cho họ, bèn là mang chân lý đức tin, một chân lý không loại trừ nghi lễ và tập tục của bất cứ một dân tộc nào, cũng không xúc phạm đến những nghi lễ ấy, miễn là chúng không xấu; ngược lại, chân lý ấy, muốn cho người ta bảo tồn và duy trì chúng là đàng khác. (…) Nguyên việc sửa chữa những quốc lệ của người ta cũng đủ gây lòng oán hận sâu đậm rồi, nhất là những tập tục cổ đã có lâu đời nhất mà các tiền nhân vẫn có thể nhớ tông tích. Càng tệ hơn nữa nếu chư huynh hủy bỏ những tập tục đó để đem phong tục quí quốc mà thay thế vào ! Vậy đừng bao giờ nên đem những tục lệ Âu châu đến đối lập với tục lệ của các dân tộc ấy; trái lại hãy hết lòng sống cho quen với tập tục của họ…”[31]

2. Gaspar do Amaral và António Barbosa: từ những bản thảo đến hệ thống từ vựng

Nếu Francisco de Pina mở đường bằng phương pháp, thì Gaspar do Amaral (1594–1646) và António Barbosa (1594–1647) là những người đầu tiên chuyển phương pháp ấy thành những công trình có tính hệ thống.

Gaspar do Amaral biên soạn một Từ điển Việt–Bồ Đào Nha, còn António Barbosa thực hiện Từ điển Bồ Đào Nha–Việt. Hai công trình này hiện nay đều đã thất lạc, nhưng giá trị của chúng được xác nhận bởi chính Alexandre de Rhodes trong lời tựa của Việt–Bồ–La. Không có những bản thảo ấy, rất khó hình dung cuốn từ điển năm 1651 có thể đạt tới mức độ hoàn chỉnh như chúng ta thấy ngày nay.

Điều đáng chú ý là hai bộ từ điển này phản ánh hai chiều của cùng một nhu cầu truyền giáo. Một mặt, nhà truyền giáo phải hiểu tiếng Việt để lắng nghe và đối thoại với người bản địa; mặt khác, họ phải diễn đạt chính xác các khái niệm thần học, luân lý và phụng vụ bằng tiếng Việt. Từ điển Việt–Bồ và Bồ–Việt vì thế không chỉ là hai công trình song song, mà còn là hai nhịp của cùng một tiến trình hội nhập văn hóa.

Từ góc nhìn khoa học, đây là bước chuyển quan trọng từ những ghi chép rời rạc sang việc hình thành một kho từ vựng có tổ chức. Mỗi mục từ được thu thập, đối chiếu và giải thích không chỉ giúp ích cho việc học tiếng, mà còn góp phần xác lập những quy tắc đầu tiên của việc biên soạn từ điển tiếng Việt.

Những lời của chính thừa sai Đắc Lộ sau đây đã minh chứng cho những thừa sai Dòng Tên “khai móng, dựng nền” cho “ngôi đền Quốc ngữ” mà chính ngài chỉ là người “tập đại thành”:

“Về tác phẩm này, ngoài những điều tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm sống tại miền đất này, cả Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài, và ngay từ đầu tôi đã nghe những lời dạy của cha Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, thuộc Dòng Tên nhỏ bé của chúng tôi, thầy dạy thật sự của chúng tôi về ngôn ngữ này, và cũng là người đầu tiên sử dụng nó để giảng thuyết – Tôi cũng chủ yếu dựa vào công trình của Gaspar do Amaral và António Barbosa, mỗi người đều đã biên soạn một cuốn tự điển, người đầu tiên bắt đầu bằng tiếng Annam, người sau bằng tiếng Bồ, cả hai đều đã chết sớm và đã được cất khỏi chúng ta như thế.”[32]

3. Buzomi – Cristoforo Borri: cư sở Nước Mặn, nơi phôi thai chữ Quốc ngữ

Khi nói đến những thừa sai Dòng Tên có công “đặt nền móng ban đầu” cho “ngôi đền Quốc ngữ” chúng ta không thể không nhắc đến các linh mục như Buzomi, Cristoforo Borri, Marques, Fontes, Girolamo Majorica, E. Borges, Gaspar Luiz… Những thế hệ thừa sai Dòng Tên này hầu hết được sai đến vùng đất Đại Việt từ trung tâm chính của Dòng Tên tại Á châu lúc bấy giờ là Ma Cao[33] và sau biến cố “bách hại Kitô hữu” tại Nhật Bản”:

“Do cuộc bách hại tại Nhật Bản, nhất là chỉ dụ cấm đạo 14.02.1614, các thừa sai bị buộc rời khỏi nước Nhật cùng với những thông tin thuận lợi và hấp dẫn của thuyền trưởng thương gia Ferdinand Costa về xứ Đàng Trong, Bề trên tỉnh dòng Macao của Dòng Tên Valentim Carvalho đã cử phái đoàn truyền giáo đầu tiên đến Đàng Trong gồm ba người: Cha Buzomi (người Ý là Trưởng đoàn), cha Diogo Carvalho và tu huynh Antonio Dias (người Bồ). Các ngài đã cập bến Đàng Trong tại Cửa Hàn ngày 18.01.1615”[34].

Trong số đó, ngoài thừa sai Pina đã nói trước, phải kể hai linh mục Buzomi (1576-1639)[35] và Cristoforo Borri (1583-1632)[36] là những thừa sai góp công thật nhiều trong giai đoạn phôi thai chữ Quốc Ngữ, khi cùng nhau làm việc chung và biến “Cư sở Nước Mặn”[37] (Residentia di Pulocambi) thành “ngôi trường nghiên cứu, học hỏi và truyền dạy” tiếng và chữ Việt (Quốc ngữ)[38].

II. NHÂN VẬT VÀ CÔNG TRÌNH “TẬP ĐẠI THÀNH”

1. Alexandre de Rhodes: người tổng hợp và công bố một di sản

Năm 1651, tại nhà in của Thánh Bộ Truyền bá đức tin[39] ở Rôma, Alexandre de Rhodes (1591–1660) cho xuất bản Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, bộ từ điển Việt–Bồ–La đầu tiên còn lưu giữ được cho đến ngày nay cùng với cuốn Giáo lý “Phép giảng tám ngày”[40]. Cùng năm đó, ngài cũng công bố Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio[41], một khảo luận ngắn về ngữ pháp tiếng Việt. Hai tác phẩm này đánh dấu lần đầu tiên tiếng Việt được trình bày một cách có hệ thống trước giới học thuật châu Âu.

Giá trị của công trình không chỉ nằm ở việc tổng hợp vốn từ, mà còn ở phương pháp biên soạn. Từ điển được sắp xếp theo thứ tự mẫu tự Latinh, mỗi mục từ tiếng Việt được giải thích bằng tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh, đồng thời phản ánh những nỗ lực đáng kể trong việc ghi lại thanh điệu và phát âm. Dù còn những giới hạn tất yếu của giai đoạn sơ khai, cuốn từ điển đã đặt nền móng cho việc chuẩn hóa chữ Quốc ngữ.

Tuy nhiên, điều làm nên tầm vóc học thuật của Alexandre de Rhodes còn nằm ở sự trung thực trí thức. Thay vì tự nhận mình là tác giả duy nhất của công trình, ngài công khai nhìn nhận sự đóng góp của Francisco de Pina, Gaspar do Amaral và António Barbosa. Chính thái độ ấy cho thấy rằng Việt–Bồ–La không phải là thành quả của một cá nhân, mà là kết tinh của một truyền thống cộng tác trong lòng cộng đoàn truyền giáo Dòng Tên.

2. Từ "Việt–Bồ–La" đến sự khai sinh của một truyền thống khoa học

Trong lịch sử khoa học, có những tác phẩm mở đầu cho cả một ngành nghiên cứu. Đối với Việt Nam, Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum giữ vị trí như thế. Giá trị của nó không chỉ ở chỗ là bộ từ điển đầu tiên còn tồn tại, mà còn ở việc thiết lập một phương pháp nghiên cứu tiếng Việt dựa trên quan sát thực nghiệm, đối chiếu ngôn ngữ và hệ thống hóa từ vựng.

Từ đây, việc nghiên cứu tiếng Việt không còn chỉ dựa trên kinh nghiệm cá nhân của từng thừa sai, nhưng được chuyển thành một truyền thống có thể truyền đạt, kế thừa và phát triển. Những thế hệ đến sau không cần bắt đầu lại từ đầu; họ có thể dựa trên thành quả của những người đi trước để bổ sung, hiệu đính và mở rộng. Chính sự kế thừa ấy là đặc điểm nổi bật của nền từ điển học do các thế hệ thừa sai kiến tạo.

Nhìn lại toàn bộ giai đoạn khai sáng, có thể thấy bốn nhân vật – Francisco de Pina, Gaspar do Amaral, António Barbosa và Alexandre de Rhodes – không phải là bốn công trình riêng lẻ, nhưng là bốn mắt xích của cùng một tiến trình. Pina mở đường bằng phương pháp; Amaral và Barbosa xây dựng kho từ vựng song ngữ; Alexandre de Rhodes tổng hợp, hệ thống hóa và đưa thành quả ấy đến với thế giới. Nhờ sự cộng tác ấy, nền từ điển học tiếng Việt đã vượt qua giai đoạn thử nghiệm để trở thành một truyền thống học thuật thực sự.

Kết

Thế hệ thừa sai Dòng Tên thế kỷ XVII đã để lại cho Việt Nam nhiều hơn một bộ từ điển. Điều các ngài kiến tạo là một phương pháp và một truyền thống. Chính phương pháp ấy giúp tiếng Việt lần đầu tiên được khảo sát một cách khoa học; chính truyền thống ấy tạo điều kiện để các thế hệ sau tiếp tục mở rộng và hoàn thiện công trình. Vì vậy, khi nhắc đến Việt–Bồ–La năm 1651, cần nhìn nhận đây không chỉ là tác phẩm của Alexandre de Rhodes, mà là kết tinh của cả một thế hệ thừa sai biết đặt lợi ích của sứ mạng và của tri thức lên trên vinh quang cá nhân.

Nhưng mọi công trình khai sáng đều cần được tiếp nối. Sau gần hai thế kỷ đầu tiên, nhu cầu mục vụ, sự phát triển của chữ Quốc ngữ và vốn từ tiếng Việt đòi hỏi một bước kiện toàn mới. Chính trong bối cảnh ấy, các nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris, đặc biệt là Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine và Đức cha Jean-Louis Taberd, đã đưa truyền thống từ điển học bước sang một giai đoạn trưởng thành hơn, mở đầu cho tiến trình chuẩn hóa và mở rộng sẽ được trình bày trong chương tiếp theo.

 

CHƯƠNG III - TỪ TỪ ĐIỂN ĐẾN VĂN HỌC KIỆN TOÀN NỀN TỪ ĐIỂN HỌC VÀ MỞ RA VĂN HỌC QUỐC NGỮ

BA CON SUỐI CỦA DÒNG HỢP LƯU QUỐC NGỮ: Pigneau de Béhain (1772) - Philipphê Bỉnh (1790) - J.L. Taberd (1883)

Có những bộ từ điển chỉ giúp người ta tra nghĩa của từ; nhưng cũng có những bộ từ điển mở ra cả một nền văn hóa. Bộ Dictionarium Anamitico-Latinum của Jean-Louis Taberd (1838) thuộc về loại thứ hai.

TỰ ĐIỂN ANAMITICO-LATINUM 1772 (ĐC P. PIGNEAU DE BÉHAINE)

TỰ ĐIỂN ANAMITICO-LATINUM 1838 (ĐC. J.L. TABERD)


Dẫn nhập

Lịch sử của bất cứ ngành học đều là câu chuyện của một truyền thống được kiến tạo qua nhiều thế hệ. Điều ấy đặc biệt đúng đối với nền từ điển học tiếng Việt. Từ những bản thảo tiên khởi của các thừa sai Dòng Tên đến những bộ từ điển “chính quy” mang tầm mức quốc tế của các thừa sai của MEP[42]…, tất cả hợp thành một tiến trình liên tục, trong đó mỗi thế hệ vừa kế thừa vừa đổi mới di sản của thế hệ đi trước.

Từ góc nhìn ấy, Chương III không chỉ nhằm khảo sát sự phát triển của một bộ từ điển mà còn để chứng minh rằng giai đoạn Bá Đa Lộc (1772) – Taberd (1838) đã đánh dấu thời điểm chữ Quốc ngữ bước từ chức năng ghi âm và ghi từ sang chức năng sáng tạo và chuyển tải văn học, mở đường cho sự phát triển bác học của nền từ điển học Việt Nam.

I. TỪ DI SẢN CỦA ALEXANDRE DE RHODES ĐẾN BẢN THẢO BỘ TỪ ĐIỂN MỚI CỦA PIGNEAU DE BÉHAINE

1. Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc): người đặt nền cho cuộc kiện toàn từ điển học tiếng Việt

Nếu Alexandre de Rhodes là người đưa chữ Quốc ngữ bước vào lịch sử qua việc công bố Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (1651), thì gần một thế kỷ rưỡi sau, Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (1741-1799)[43], thường được người Việt biết đến với tên gọi Bá Đa Lộc, lại là người âm thầm đặt nền móng cho giai đoạn kiện toàn nền từ điển học tiếng Việt. Dù công trình của ngài không được xuất bản khi còn sinh thời, ảnh hưởng của nó đối với lịch sử chữ Quốc ngữ lại sâu rộng hơn nhiều người thường nghĩ.

1.1. Từ nhà truyền giáo đến học giả ngôn ngữ

Trong ký ức lịch sử, tên tuổi Bá Đa Lộc thường gắn với vai trò ngoại giao, với Hoàng tử Cảnh, với Hiệp ước Versailles năm 1787 hay với những biến động cuối thế kỷ XVIII. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở phương diện chính trị, người ta sẽ vô tình bỏ quên một đóng góp âm thầm nhưng bền vững hơn: sự nghiệp nghiên cứu tiếng Việt.

Là một thừa sai của Hội Thừa sai Paris (MEP), Bá Đa Lộc sớm nhận ra rằng việc truyền giáo không thể tách rời việc am hiểu ngôn ngữ và văn hóa bản địa. Đối với các nhà truyền giáo, tiếng Việt không đơn thuần là phương tiện giao tiếp, mà còn là con đường để tiếp cận tâm thức, văn hóa và đời sống tinh thần của người Việt. Chính xác trong ngôn ngữ là điều kiện để trung thành trong việc loan báo Tin mừng.

Nhận thức ấy thúc đẩy ngài tiếp tục con đường mà thừa sai Dòng Tên đã khai mở. Nhưng thay vì chỉ sử dụng Việt–Bồ–La như một công cụ sẵn có, Bá Đa Lộc bắt đầu bổ sung, sửa chữa và mở rộng vốn từ dựa trên kinh nghiệm mục vụ nhiều năm tại Đàng Trong. Điều này phản ánh một thái độ học thuật rất đáng chú ý: truyền thống chỉ thực sự sống động khi được liên tục canh tân, bổ sung, hoàn thiện…

1.2. Bản thảo từ điển – chiếc cầu nối giữa hai thế kỷ

Thành quả lớn nhất của Bá Đa Lộc trong lĩnh vực ngôn ngữ là bản thảo Dictionarium Anamitico-Latinum, được biên soạn vào những năm cuối thế kỷ XVIII. Dù chưa được in, bản thảo này đánh dấu một bước phát triển vượt bậc so với Việt–Bồ–La.

Khác với Alexandre de Rhodes – người làm việc trong hoàn cảnh còn rất thiếu thốn tư liệu và thời gian – Bá Đa Lộc được hưởng lợi từ gần 150 năm kinh nghiệm truyền giáo của các thế hệ tiền bối. Ngài có thể đối chiếu nhiều cách phát âm, nhiều biến thể địa phương và nhiều lớp từ vựng mới đã xuất hiện trong đời sống xã hội Việt Nam. Vì thế, bản thảo của ngài không chỉ là sự lặp lại công trình cũ, mà là một cuộc rà soát và cập nhật toàn diện.

Đặc biệt, việc chú ý nhiều hơn đến chữ Nôm cho thấy Bá Đa Lộc đã ý thức rằng muốn hiểu tiếng Việt một cách đầy đủ thì không thể tách rời truyền thống văn tự của dân tộc, một định hướng đúng đắn mà vị thừa sai Dòng Tên tiền bối – Majorica (1591-1656) – đã chọn lựa và xây dựng rất thành công[44]. Đây là một bước tiến phương pháp luận quan trọng. Nếu Việt–Bồ–La chủ yếu nhằm phục vụ việc học nói và học giảng, thì công trình của Bá Đa Lộc bắt đầu hướng đến việc nghiên cứu tiếng Việt như một đối tượng ngôn ngữ có lịch sử và có truyền thống văn học riêng.

Bản thảo “Dictionarium Anamitico-Latinum” (Việt – La) được Đức cha Pigneau de Béhaine khởi soạn tại Đàng Trong, trong khoảng 9.1772–6.1773, và được Thư viện quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de France – Viết tắt: BnF) xác nhận đây là một bản thảo gồm 729 trang, trong đó các mục từ được ghi bằng chữ Nôm, kèm cách đọc/chuyển tự và phần giải nghĩa bằng tiếng Latinh.

Điểm đặc biệt của công trình là nó kế thừa truyền thống từ điển học Việt–Bồ–La của thế kỷ XVII nhưng tiến thêm một bước quan trọng: lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ trung tâm và dùng chữ Nôm để ghi nhận từ vựng Việt, đồng thời giải nghĩa bằng Latinh. Vì thế, đây là một tư liệu quý về tiếng Việt cuối thế kỷ XVIII, phản ánh vốn từ, cách dùng từ và nhiều yếu tố văn hóa của xã hội Đàng Trong thời ấy.

Điều đáng chú ý hơn nữa là bản thảo này đã trở thành nền tảng trực tiếp cho truyền thống từ điển Việt–La tinh thế kỷ XIX. Chính nhan đề bản in năm 1838 của Taberd ghi rất rõ: Primitus inceptum ab illustrissimo et reverendissimo P. J. Pigneaux. Dein absolutum et editum a J. L. Taberd. (Nghĩa là: “Thoạt tiên được khởi sự bởi Đức cha rất đáng kính P. J. Pigneaux; sau đó được hoàn thành và xuất bản bởi J. L. Taberd.”)

Như vậy, cần nhìn công trình này theo một dòng truyền thừa từ điển học: Alexandre de Rhodes (1651) → Pigneau de Béhaine (1772–1773) → Taberd (1838)… → các công trình từ điển Việt–Pháp/Việt–La tinh cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

1.3. Một công trình chưa hoàn thành nhưng không hề dang dở

Năm 1799, Bá Đa Lộc qua đời khi bản thảo vẫn chưa được xuất bản. Nhìn bề ngoài, đó có vẻ là một công trình dang dở. Nhưng trong lịch sử khoa học, giá trị của một công trình không chỉ nằm ở việc nó được in thành sách, mà còn ở khả năng mở đường cho các thế hệ kế tiếp.

Điều này cho thấy một đặc điểm rất đẹp của truyền thống học thuật Công giáo: tri thức không thuộc sở hữu của một cá nhân, nhưng được truyền lại như một gia sản chung. Mỗi thế hệ không bắt đầu từ con số không, mà khiêm tốn tiếp nhận thành quả của người đi trước để tiếp tục phát triển. Chính tinh thần ấy đã tạo nên sự liên tục hiếm có của nền từ điển học tiếng Việt trong suốt hơn hai thế kỷ.

1.4. Bá Đa Lộc và bước chuyển của tư duy từ điển học

Đóng góp quan trọng nhất của Bá Đa Lộc không chỉ là số lượng mục từ được bổ sung hay những điều chỉnh về chính tả. Giá trị lớn hơn nằm ở sự thay đổi trong cách nhìn về bộ từ điển.

Ở thế hệ đầu, từ điển chủ yếu là công cụ phục vụ truyền giáo: giúp các nhà thừa sai học tiếng Việt để giảng dạy giáo lý và cử hành mục vụ. Đến Bá Đa Lộc, bộ từ điển bắt đầu mang dáng dấp của một công trình nghiên cứu ngôn ngữ. Việc quan tâm đến sự phong phú của vốn từ, đến mối tương quan giữa chữ Quốc ngữ và chữ Nôm, cũng như đến tính chính xác của từng mục từ cho thấy một bước trưởng thành về phương pháp.

Trong lịch sử chữ Quốc ngữ, Pierre Pigneau de Béhaine thường được nhớ đến như một nhà truyền giáo và một nhân vật ngoại giao. Tuy nhiên, dưới góc nhìn của lịch sử từ điển học, ngài còn xứng đáng được nhìn nhận như người kiến tạo giai đoạn chuyển tiếp giữa công trình khai sáng của Alexandre de Rhodes và thời kỳ chín muồi của Jean-Louis Taberd.[45]

2. Philipphê Bỉnh – người gìn giữ và tiếp nối di sản từ điển học Quốc ngữ - Cầu nối giữa Dòng Tên – Đàng Ngoài và MEP Đàng Trong

Nếu thế kỷ XVII đánh dấu buổi bình minh của công cuộc điển chế tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh với những đóng góp của Francisco de Pina, Gaspar do Amaral, António Barbosa và Alexandre de Rhodes, thì bước sang cuối thế kỷ XVIII, di sản ấy không hề bị đứt đoạn. Một trong những nhân vật đặc biệt quan trọng nối kết hai giai đoạn chính là linh mục Philipphê Bỉnh (Philipphe Rosario Bỉnh, 1759–1832)[46], một linh mục người Việt thuộc thế hệ các linh mục bản địa được đào tạo trong truyền thống Dòng Tên truyền giáo tại Đàng Ngoài.

Philipphê Bỉnh đã để lại một di sản văn hóa đồ sộ liên quan đến Quốc ngữ. Trong số những bản thảo ông để lại tại Lisboa, có một di sản từ điển học bằng chữ Quốc ngữ hết sức đáng kể, gồm nhiều công trình từ điển và các bản sao từ điển cổ. Chính những tài liệu này giúp lấp vào một khoảng trống quan trọng trong lịch sử phát triển chữ Quốc ngữ và từ điển học Việt Nam giữa Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes (1651) và các bộ từ điển của Pigneau de Béhaine rồi Taberd vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.

2.1. Philipphê Bỉnh và những bộ từ điển được lưu giữ tại Lisboa

Sau khi sang Bồ Đào Nha năm 1796 và sống những năm cuối đời tại Lisboa, Philipphê Bỉnh đã dành nhiều thời gian viết, sao chép và bảo tồn các tài liệu liên quan đến tiếng Việt, đời sống Giáo hội và lịch sử truyền giáo. Nguồn tư liệu hiện còn cho thấy ông đã để lại nhiều bản thảo bằng chữ Quốc ngữ, chữ Nôm, tiếng Bồ Đào Nha và La-tinh. Trong số đó có những công trình mang tính chất từ điển học rất rõ rệt.

Các tư liệu được biết đến cho thấy có ít nhất ba nhóm từ điển quan trọng gắn với Philipphê Bỉnh:

- Dictionarium Annamiticum seu Tunchinense cum Lusitana declaratione (Từ điển tiếng An Nam, tức tiếng Đông Kinh, với phần giải nghĩa bằng tiếng Bồ Đào Nha), bản chép năm 1790.

- Dictionarium Annamiticum seu Tunchinense Lusitana & Latina declaratione(Từ điển tiếng An Nam, tức tiếng Đông Kinh, với phần giải nghĩa bằng tiếng La tinh), bản chép năm 1797;

- Bộ từ điển Việt–Bồ và Bồ–Việt, hiện còn được biết qua các bản thảo lưu trữ tại Roma.

Một số nguồn tư liệu và nghiên cứu hiện nay ghi nhận tại Thư viện Tòa thánh Vatican còn lưu giữ ba bản từ điển liên quan đến Philipphê Bỉnh và các cộng sự của ông; trong khi một số thư mục học thuật khác còn cho thấy phạm vi tư liệu từ điển học mà ông sao chép và bảo tồn rộng hơn.

Điều quan trọng ở đây không phải chỉ là số lượng tác phẩm, nhưng là vai trò trung gian của Philipphê Bỉnh trong lịch sử truyền lưu từ điển học Quốc ngữ. Ông xuất hiện tại một thời điểm mà những công trình từ điển của thế kỷ XVII vốn được hình thành trong môi trường truyền giáo Dòng Tên đã trở thành nguồn tư liệu quý giá cho các thế hệ thừa sai và linh mục Việt Nam sau này.

2.2. Từ điển của Philipphê Bỉnh – chứng tích của tiếng Việt Đàng Ngoài thế kỷ XVIII

Giá trị đặc biệt của di sản Philipphê Bỉnh nằm ở chỗ các bản thảo của ông không đơn thuần là những bản sao vô nghĩa. Chúng phản ánh một giai đoạn phát triển mới của tiếng Việt và chữ Quốc ngữ, đặc biệt là tiếng Việt Đàng Ngoài vào thế kỷ XVIII.[47]

Một nghiên cứu về công cuộc La-tinh hóa tiếng Việt nhận xét rằng bản Dictionarium annamiticum seu Tunkinense Lusitana & Latina declaratione mà Philipphê Bỉnh chép năm 1797 đã được chỉnh lý theo hệ thống ngữ âm của thế kỷ XVIII; trong đó một số phụ âm kép như bl, ml vẫn còn được ghi nhận. Điều này cho thấy các bản thảo của ông có thể cung cấp những cứ liệu quan trọng để nghiên cứu sự vận động của hệ thống âm vị tiếng Việt trước khi chữ Quốc ngữ tiến tới hình thức tương đối ổn định vào thế kỷ XIX.

Ở điểm này, Philipphê Bỉnh có một vị trí rất đáng chú ý trong lịch sử từ điển học: ông không chỉ bảo tồn từ vựng, mà còn lưu giữ những dấu vết lịch sử của cách phát âm và cách ghi âm tiếng Việt của thời khai sinh và đang hoàn chỉnh. Những hình thức chính tả trong các bản thảo của ông giúp các nhà nghiên cứu ngày nay có thêm cứ liệu để theo dõi quá trình biến đổi từ hệ thống chữ Quốc ngữ thế kỷ XVII sang hệ thống chính tả gần với hiện đại.

Do đó, nếu chỉ nhìn Philipphê Bỉnh như một tác giả văn học Công giáo hay một người sao chép sách thì sẽ đánh giá chưa đầy đủ vai trò của ông. Xét trong lịch sử từ điển học Quốc ngữ, ông phải được nhìn nhận như một mắt xích trung gian quan trọng của quá trình truyền lưu, hiệu chỉnh và phát triển vốn từ tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh.

2.3. Từ di sản của Đắc Lộ đến các thế hệ từ điển học sau này

Một điểm đáng chú ý khác là các bản thảo từ điển gắn với Philipphê Bỉnh cho phép chúng ta nhìn lại mối liên hệ giữa các công trình của thế kỷ XVII với những bộ từ điển xuất hiện vào cuối thế kỷ XVIII.

Các nghiên cứu về tư liệu này cho thấy Philipphê Bỉnh đã sao chép những từ điển Việt–Bồ và Bồ–Việt có liên hệ với truyền thống của Gaspar do Amaral và António Barbosa, đồng thời có bản chép Dictionarium Annamiticum seu Tunchinense năm 1797.

Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với lịch sử Việt-Bồ-La. Nếu năm 1651, Alexandre de Rhodes đã đưa truyền thống ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh đến một bước ngoặt quan trọng bằng việc in Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum, thì hơn một thế kỷ sau, Philipphê Bỉnh lại góp phần giữ cho truyền thống từ điển ấy tiếp tục được lưu truyền trong môi trường Đàng Ngoài, đồng thời phản ánh những biến đổi mới của tiếng Việt.

Như vậy, giữa Đắc Lộ (1651) và Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) không phải là một khoảng trống tuyệt đối. Chính những bản thảo của Philipphê Bỉnh giúp chúng ta nhận ra một dòng truyền thừa liên tục hơn: Pina – Amaral – Barbosa → Đắc Lộ → các thế hệ từ điển học thế kỷ XVIII → Philipphê Bỉnh → Pigneau de Béhaine → Taberd → các nhà từ điển học thế kỷ XIX. Sơ đồ này cần được hiểu như một dòng truyền lưu và tương tác, chứ không phải một chuỗi tác giả đơn tuyến. Mỗi thế hệ đều kế thừa, điều chỉnh và bổ sung những thành quả của thế hệ trước theo nhu cầu truyền giáo, học thuật và ngôn ngữ của thời đại mình.

2.4. Một “kho lưu trữ sống” của chữ Quốc ngữ

Một ý nghĩa lớn hơn nữa của Philipphê Bỉnh là ông đã trở thành một người bảo tồn ký ức tư liệu của thời kỳ đầu chữ Quốc ngữ. Trong thời gian sống tại Lisboa, ông đã sao chép và gìn giữ một số lượng rất lớn tác phẩm. Các thư mục và nghiên cứu về di sản của ông cho biết ông để lại hàng chục tác phẩm và bản sao, trong đó có nhiều tài liệu bằng Quốc ngữ.

Vì thế, di sản từ điển học của Philipphê Bỉnh cần được đánh giá trên hai bình diện song song:

- Thứ nhất, bình diện từ điển học: ông là tác giả hoặc người sao chép và truyền giữ nhiều bản từ điển Việt–Bồ, Bồ–Việt, Việt–Bồ–La và những tài liệu liên quan.

- Thứ hai, bình diện lịch sử ngôn ngữ: các bản thảo của ông là những chứng liệu quý về tiếng Việt Đàng Ngoài và về quá trình biến đổi của chữ Quốc ngữ trong thế kỷ XVIII.

2.5. Vị trí của Philipphê Bỉnh trong lịch sử từ điển học Quốc ngữ

Nếu Alexandre de Rhodes là người đưa một thành quả quan trọng của truyền thống từ điển học truyền giáo thế kỷ XVII đến hình thức in ấn và phổ biến rộng rãi, thì Philipphê Bỉnh lại có công đặc biệt trong việc bảo tồn và chuyển tiếp truyền thống ấy qua thời kỳ bản thảo, đồng thời phản ánh diện mạo mới của tiếng Việt Đàng Ngoài.

Đây chính là lý do tại sao khi khảo sát “Di sản từ điển học Quốc ngữ của các thừa sai Công giáo”, không thể bỏ qua Philipphê Bỉnh. Ông không đứng bên lề lịch sử từ điển học, cũng không chỉ là một người chép sách. Ông nằm ở một điểm nối chiến lược giữa hai thời kỳ: từ truyền thống Dòng Tên thế kỷ XVII đến truyền thống từ điển học của các giám mục và thừa sai thế kỷ XVIII–XIX cũng là yếu tố góp phần làm phong phú gia tài tiếng Việt ở cả hai miền Nam Bắc.

Vì thế, trong toàn bộ lịch sử này, Philipphê Bỉnh cần được đặt ở vị trí một “người giữ cầu”: một linh mục Việt Nam đã tiếp nhận di sản ngôn ngữ của các thừa sai thế kỷ XVII, sao chép và bảo tồn nó tại châu Âu, đồng thời để lại những chứng liệu quý giúp chúng ta nhận diện bước chuyển của tiếng Việt và chữ Quốc ngữ từ thế kỷ XVIII sang thế kỷ XIX, từ Đàng Ngoài sang Đàng Trong.

Từ điểm nối ấy, lịch sử từ điển học Quốc ngữ tiếp tục bước sang một giai đoạn mới với Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) – người đã chuẩn bị đưa truyền thống Quốc ngữ sang một hướng phát triển mới và tạo tiền đề trực tiếp cho các công trình của Taberd và những thế hệ từ điển học kế tiếp.

II. JEAN-LOUIS TABERD: NGƯỜI ĐƯA NỀN TỪ ĐIỂN HỌC TIẾNG VIỆT ĐẾN ĐỘ CHÍN MUỒI

1. Không phải “một” mà “hai”: Giới thiệu Từ điển Taberd 1838:[48]

Chúng ta được biết, vào năm 1838, Đức cha J.L. Taberd, Giám mục hiệu tòa Isauropolis, Đại diện Tông Tòa Giáo phận Đàng Trong, đã xuất bản hai cuốn Tự vị tại nhà in J.C. Marshman tại Serampore tại Bengale, Ấn Độ, nơi mà ngài đã tìm cách tạm dung do cuộc bách hại của Minh Mạng năm 1833[49]; và sau khi phong chức Giám mục và ủy nhiệm cai quản mục vụ cho Đức cha Cuénot Thể (3.5.1835)[50].

1.1. Cuốn một: tự vị An-nam – La-tinh (Dictionarium Anamitico-Latinum – Nam Việt Dương hiệp tự vị):




TỰ ĐIỂN ANAMITICO-LATINUM CỦA TABERD 1838 (CUỐN I)

Đây là cuốn Tự vị được hiệu đính lại từ cuốn Tự vị Anamitico-Latinum do Đức cha P.J. Pigneau de Béhaine, Giám mục hiệu tòa Adran, Đại diện Tông tòa Đàng Trong, biên soạn năm 1772 tại Pondichéry. Trong cuốn này, phần tiếng “An-nam” được trình bày bằng hai loại “Quốc ngữ”[51]: Quốc ngữ “Nôm” (Chế tác từ chữ Hán) và Quốc ngữ “La tinh hóa” (Dùng mẫu tự La tinh để chế tác chữ Việt).

- Phần chú thích mở đầu (MONITUM) của cuốn tự điển An-nam – La-tinh (Dictionarium Anamitico-Latinum) 1838 nguyên thủy bao gồm các nội dung:

- Chuỗi chữ cái An Nam được sắp xếp theo thứ tự.

- Kết hợp các phụ âm đầu với các nguyên âm.

- Kết hợp các nguyên âm với các phụ âm cuối.

- Lời nói đầu (Proœmium).

- Tóm lược ngữ pháp.

- Luận bàn về các từ và đại từ khác nhau, rất hữu ích cho việc diễn đạt một cách thanh nhã ngôn ngữ An Nam.

- Danh từ số đếm (Nomina numeralia).

- Tóm tắt về thể thơ An Nam (Compendium versificationis Anamiticæ).

Riêng trong mục Tóm tắt về thể thơ An Nam (Compendium versificationis Anamiticæ), ban biên soạn cuốn Tự điển thứ nhất này (Anamitico- Latinum) đã có một phần minh giải khá chi tiết về các thể thơ của Việt Nam, với niêm luật được minh họa bởi những bài thơ tiêu biểu như:

- Loại thơ “Vãn” (Lục bát): với 6 câu thơ lục bát (không đề tên tác giả)

- Loại “Thất ngôn bát cú” (Đường luật): 1 bài mang tên “Phán xét công bình thơ”, một bài mang tên “Bắt đạo thơ”. Cả hai đều không đề tên tác giả.

- Loại thơ “Ngũ ngôn”: với bài “Tứ thời” của Thôi Hiệu.

- Loại “Văn Tế” (Điếu văn tang lễ): với hai bài văn tế mẫu (mẫu văn đặt vần bình và mẫu văn đặt vần trắc) bằng chữ Quốc ngữ cũng không đề tên tác giả.

Về các bài thơ minh họa không đề tên tác giả thì theo nhà nghiên cứu LINH MỤC PHANXICÔ X. ĐÀO TRUNG HIỆU, trong bài chuyên luận “Thánh Philipphê Phan Văn Minh, cánh én báo mùa xuân văn học chữ quốc ngữ thế kỷ XIX” đã cho rằng chính Thánh tử đạo Philipphê Phan Văn Minh, người cộng tác với Đức cha Taberd soạn hai cuốn tự điển Anamitico-Latinum và Latino-Anamiticum 1838, đã soạn tác các bài thơ này và đưa vào Tự điển[52].

Riêng về hai bài “Văn tế mẫu” thì ngay trong Tự điển có thêm ghi chú số 1 (Nota 1) bằng tiếng La tinh để nói về xuất xứ (hoàn cảnh sáng tác) như sau:

Nota 1. Duo ultima exemplaria quae ad laudationem mortuorum spectant, desumpta sunt ex orationibus habitis in funere D. D. Petri Pigneau Episcopi Adranensis nec non Vicarii Apostolici Regnorum Cocincinae, Capodiae et Ciampae, anno 1799, die vero nona octobris defuncti, atque die 16e Decembris sepulti amplo funere celebrato cui ipsae Gia Long Rex Concincinae adfuit.

Ghi chú 1. Hai bài mẫu cuối cùng liên quan đến việc ca ngợi người quá cố được trích từ các bài diễn văn trong lễ tang Đức cha Pierre Pigneau, Giám mục Adran, kiêm Đại diện Tông tòa của các vương quốc Nam Kỳ, Campuchia và Chăm-pa. Ngài qua đời vào ngày 9 tháng 10 năm 1799 và được an táng trọng thể vào ngày 16 tháng 12 cùng năm, trong một lễ tang lớn mà chính vua Gia Long của Nam Kỳ đã tham dự.[53].

Được biết, trong tang lễ của Đức cha Pigneau de Béhaine tại Sài Gòn ngày 16.12.1799 có tất cả 4 bài Văn Tế: Hai bài do Đặng Đức Siêu (1751-1810)[54] chắp bút: một cho chúa vương Nguyễn Ánh đọc và một cho Hoàng tử Cảnh đọc[55]. Hai bài còn lại được nói ở trên cũng không đề tên tác giả. Tuy nhiên, dựa vào thời điểm xuất hiện chính thức của hai bài Văn tế nầy (16.12.1799), thì tác giả không thể là Thánh Philipphê Phan Văn Minh; vì thánh Minh sinh năm 1815, trong khi hai bài Văn tế nầy đã xuất hiện trong lễ tang của Đức cha Pigneau de Béhaine năm 1799, trước ngày sinh của thánh Minh 16 năm!

1.2 Cuốn hai: Tự vị La-tinh – An-nam (Dictionarium Latino-Anamiticum):

Đây là cuốn Tự vị thứ hai, cũng trên nền tảng của cuốn Tự vị năm 1772. Từ vựng được sử dụng theo mẫu tự La tinh và phần dịch nghĩa tiếng “An-nam” chỉ trình bày bằng chữ Quốc ngữ (theo mẫu tự la tinh).

Đặc biệt, trong cuốn Tự vị này, phần đầu, ngoài phần dẫn nhập, có thêm tư liệu “Bổn tiếng La tinh” (một khóa trình tổng lược về “văn phạm tiếng La tinh”).


TỰ ĐIỂN LATINO-ANAMITICUM CỦA TABERD 1838 (CUỐN II)

Nơi phần cuối cuốn Tự điển II này có hai Phụ lục: Phụ lục một: Tổng hợp các từ thông dụng theo 4 cột tiếng song song: Anh, Pháp, La tinh và Quốc ngữ. Riêng phần Phụ lục hai: Đính kèm tác phẩm Inê Tử đạo vãn cũng được in thành 4 thứ tiếng với 4 cột song song: Anh, Pháp, La tinh và Quốc ngữ[56].


PHỤ LỤC 2: TRƯỜNG CA INÊ TỬ ĐẠO VÃN

2. Một bộ từ điển ra đời ngoài biên giới Việt Nam nhưng thuộc về lịch sử văn hóa Việt Nam

Việc bộ từ điển (hai cuốn) Dictionarium Anamitico-Latinum và Latino-Anamiticum được in tại Serampore thay vì ở Việt Nam phản ánh hoàn cảnh lịch sử đầy biến động của Giáo Hội Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XIX. Những cuộc bách hại dưới triều Minh Mạng khiến hoạt động xuất bản gần như không thể thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Thế nhưng, nghịch lý của lịch sử là chính từ một nhà in xa xôi bên bờ sông Hằng, một trong những công trình học thuật quan trọng nhất về tiếng Việt lại được gửi trở về phục vụ Giáo Hội và góp phần làm giàu kho tàng văn hóa Việt Nam.

Điều đó nhắc chúng ta rằng lịch sử chữ Quốc ngữ ngay từ đầu đã mang một chiều kích vượt biên giới. Nó được hình thành trong cuộc gặp gỡ giữa Đông và Tây, giữa các nhà truyền giáo và các cộng sự người Việt, giữa nhu cầu loan báo Tin mừng và khát vọng tìm hiểu một nền văn hóa. Chính vì thế, bộ từ điển của Taberd tuy được in ngoài lãnh thổ Việt Nam, nhưng lại là một phần không thể tách rời của lịch sử trí thức Việt Nam.

3. Một công trình của sự kế thừa và cộng tác

Trong lịch sử học thuật, người ta thường có xu hướng gắn một công trình với tên của người công bố. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn "bộ từ điển của Taberd" như những cuốn từ điển bình thường, chúng ta sẽ vô tình đơn giản hóa một quá trình lao động tập thể kéo dài gần hai thế kỷ. Đằng sau ấn bản từ điển “Taberd năm 1838” là cả một dòng chảy liên tục của truyền thống từ điển học:

- Francisco de Pina đặt nền móng cho việc ghi âm tiếng Việt.

- Gaspar do Amaral và António Barbosa xây dựng những bản thảo từ vựng đầu tiên.

- Alexandre de Rhodes hệ thống hóa thành bộ Việt–Bồ–La năm 1651.

- Pierre Pigneau de Béhaine mở rộng và hiệu đính trong bản thảo cuối thế kỷ XVIII.

- Jean-Louis Taberd kế thừa, kiểm chứng, bổ sung và hoàn thiện để công bố một bộ từ điển mới.

Nhìn từ góc độ ấy, Taberd không chỉ là tác giả của một bộ sách; ngài là người kết tinh một truyền thống học thuật đã được vun đắp qua nhiều thế hệ. Chính sự khiêm tốn ấy làm nên giá trị của công trình. Taberd không khởi đầu từ con số không, cũng không phủ nhận công lao của người đi trước. Trái lại, ngài tiếp nhận di sản ấy như một gia sản chung của Giáo hội truyền giáo và tiếp tục làm phong phú thêm bằng chính kinh nghiệm mục vụ và nghiên cứu của mình.

4. Từ kiện toàn ngôn ngữ đến kiện toàn phương pháp

Điểm nổi bật của “từ điển Taberd 1838” không chỉ nằm ở việc gia tăng số lượng mục từ. Điều quan trọng hơn là phương pháp biên soạn đã đạt tới một trình độ chín muồi hơn hẳn.

So với Việt–Bồ–La năm 1651, bộ từ điển của Taberd thể hiện nhiều bước tiến đáng kể: vốn từ phong phú hơn, phản ánh một xã hội Việt Nam đã có nhiều biến đổi sau gần hai thế kỷ; nhiều mục từ được giải thích chính xác và nhất quán hơn; việc đối chiếu với chữ Nôm được thực hiện có hệ thống hơn; cách ghi chữ Quốc ngữ ổn định hơn, góp phần vào tiến trình chuẩn hóa chính tả; nhiều thuật ngữ văn hóa, xã hội và đời sống được bổ sung, làm cho bộ từ điển vượt khỏi phạm vi thuần túy tôn giáo.

Những cải tiến ấy cho thấy Taberd không chỉ muốn làm một quyển sách giúp các nhà truyền giáo học tiếng Việt. Ngài đang xây dựng một công trình có giá trị lâu dài đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam. Ở đây, từ điển bắt đầu mang dáng dấp của một công trình bác học.

5. Một tầm nhìn vượt khỏi phạm vi ngôn ngữ

Chính tại điểm này, từ điển Taberd 1838 bắt đầu bộc lộ nét độc đáo mà các bộ từ điển trước đó chưa có. Nếu Alexandre de Rhodes quan tâm trước hết đến việc giúp người châu Âu nói được tiếng Việt, thì Taberd còn muốn họ hiểu người Việt. Đó là một khác biệt rất lớn. Muốn hiểu một dân tộc, không thể chỉ học từ vựng. Cũng không thể chỉ học ngữ pháp. Phải tiếp cận: cách suy nghĩ, cách cảm, thi ca, hình ảnh, biểu tượng, ký ức lịch sử…

Có lẽ chính từ trực giác ấy mà Taberd đã có một quyết định tưởng như rất đơn giản nhưng lại mang ý nghĩa đặc biệt: giới thiệu các thể thơ Việt Nam (Phần mở đầu Cuốn I) và nhất là đưa một tác phẩm thơ lục bát Quốc ngữ vào phụ lục (Cuốn II) của bộ từ điển. Thoạt nhìn, đó chỉ là một phụ lục. Nhưng dưới ánh sáng lịch sử, chính phụ lục ấy đã làm thay đổi ý nghĩa của toàn bộ công trình.

6. Khi từ điển bắt đầu kể câu chuyện của một dân tộc

Từ lâu, người ta quen xem bộ từ điển là nơi tra cứu nghĩa của từ. Nhưng kể từ Taberd, bộ từ điển còn bắt đầu làm một việc khác. Nó kể câu chuyện của một ngôn ngữ. Và sâu xa hơn, nó kể câu chuyện của một dân tộc.

Việc giới thiệu các thể thơ Việt Nam, nhất là khi đưa Inê Tử Đạo Vãn vào cuối bộ từ điển, từ điển Taberd 1838 không chỉ nhằm cung cấp thêm một văn bản luyện đọc mà còn khẳng định rằng: tiếng Việt không chỉ có khả năng gọi tên sự vật mà còn có thể sáng tạo thi ca; không chỉ có thể diễn tả tư tưởng, mà còn có khả năng chuyên chở cái đẹp; không chỉ là khí cụ phục vụ truyền giáo, mà còn phương thế góp phần làm phong phú kho tàng văn học nhân loại.

Ở đây, từ điển học đã bước qua một ranh giới mới. Từ điển không còn đơn thuần là khoa học về từ ngữ. Nó bắt đầu trở thành chiếc cầu nối giữa ngôn ngữ, văn học và văn hóa. Đó chính là đóng góp lớn nhất của Taberd đối với lịch sử chữ Quốc ngữ. Có thể nói được, giá trị lớn nhất của Dictionarium Anamitico-Latinum không chỉ nằm ở những tiến bộ về mặt ngôn ngữ học, mà vươn tới bao hàm cả văn bản văn học; công trình của Taberd đã làm thay đổi chính quan niệm về từ điển học. Từ đây, bộ từ điển không còn chỉ là kho từ vựng, nhưng trở thành cánh cửa dẫn người đọc bước vào thế giới tinh thần của người Việt.

Và chính tại điểm chuyển tiếp ấy, lịch sử từ điển học Việt Nam cũng bước sang một giai đoạn mới. Đó là giai đoạn mà các học giả Việt Nam bắt đầu tham gia trực tiếp vào việc kiến tạo tri thức, tiêu biểu là linh mục Phan Văn Minh, và cũng là giai đoạn mà Inê Tử Đạo Vãn xuất hiện như biểu tượng cho sự gặp gỡ giữa từ điển học, thi ca và hội nhập văn hóa.

III. LINH MỤC PHAN VĂN MINH: NHỊP CẦU TRÍ THỨC GIỮA CÁC THẾ HỆ THỪA SAI VÀ HỌC GIẢ VIỆT NAM

Không có một nền học thuật lớn nào được kiến tạo bởi một dân tộc đứng ngoài cuộc. Đến đầu thế kỷ XIX, lịch sử từ điển học tiếng Việt đã bước sang một giai đoạn mới: người Việt không còn chỉ là đối tượng được nghiên cứu, nhưng trở thành những chủ thể cùng sáng tạo tri thức.

Đến đầu thế kỷ XIX, tình hình xã hội Việt Nam đã có rất nhiều những biến đổi, trong đó có lãnh vực văn hóa văn học. Riêng Giáo hội tại Việt Nam, sau hơn hai thế kỷ hình thành và phát triển, đã đào tạo được một đội ngũ giáo sĩ bản địa có trình độ Hán học, Nôm học, Latinh học và thần học khá vững vàng. Họ không chỉ đảm nhận công việc mục vụ, nhưng còn trực tiếp tham gia vào các công trình nghiên cứu và biên soạn. Trong số những nhân vật tiêu biểu ấy, linh mục Phan Văn Minh (1815–1853)[57] nổi lên như một biểu tượng của lớp trí thức Công giáo Việt Nam đầu tiên tham gia vào việc kiến tạo nền học thuật Quốc ngữ.

1. Linh mục Phan Văn Minh – một học giả của hai truyền thống

Cuộc đời của linh mục Phan Văn Minh phản ánh một hiện tượng rất đặc biệt của văn hóa Việt Nam thế kỷ XIX. Ngài được đào tạo trong truyền thống Công giáo, nhưng đồng thời thấm nhuần nền học vấn Hán học của dân tộc. Vì thế, nơi con người ngài gặp gỡ hai dòng tri thức tưởng như khác biệt: một bên là di sản văn chương Hán – Nôm, một bên là truyền thống thần học và ngôn ngữ học Latinh.

Chính sự hội tụ ấy đã làm cho Phan Văn Minh trở thành một cộng sự đặc biệt của Đức cha Taberd.

Đối với một nhà truyền giáo châu Âu, việc nắm bắt ngữ nghĩa của tiếng Việt là điều có thể đạt được bằng sự chuyên cần học tập. Nhưng để hiểu những sắc thái tinh tế của thành ngữ, điển cố, lối diễn đạt dân gian hay nhạc tính của thơ lục bát thì cần đến trực giác của một người sinh trưởng trong chính nền văn hóa ấy. Đây là điều mà các học giả Việt Nam có thể bổ sung cho các nhà truyền giáo.

Sự cộng tác giữa Taberd và Phan Văn Minh vì thế không chỉ là quan hệ giữa người biên tập và cộng sự. Đó là cuộc gặp gỡ giữa hai truyền thống trí thức.

2. Từ người cộng tác đến đồng kiến tạo tri thức

Dù còn những chi tiết cần tiếp tục khảo cứu từ các tư liệu gốc để xác định mức độ tham gia cụ thể, có một điều hầu như không còn bị phủ nhận: sự hiện diện của các học giả Việt Nam đã góp phần quyết định vào chất lượng học thuật của những công trình ngôn ngữ lớn trong thế kỷ XIX.

Điều đáng chú ý là từ đây, người Việt không còn xuất hiện trong lịch sử chữ Quốc ngữ với tư cách những người "cung cấp ngôn liệu" hay "hướng dẫn phát âm", nhưng bắt đầu tham gia vào việc lựa chọn từ ngữ, hiệu đính văn bản, đối chiếu chữ Nôm và góp phần xác lập những chuẩn mực mới cho chữ Quốc ngữ. Đó là một bước trưởng thành có ý nghĩa lịch sử.

Nếu ở thế kỷ XVII, các nhà truyền giáo là những người học tiếng Việt từ người bản địa, thì đến đầu thế kỷ XIX, các giáo sĩ Việt Nam đã cùng các nhà truyền giáo xây dựng những công trình học thuật mang tầm quốc tế. Đây là dấu hiệu cho thấy Giáo hội tại Việt Nam đã đạt tới một mức độ trưởng thành mới: từ Giáo hội được truyền giáo trở thành Giáo hội biết cộng tác vào chính sự phát triển của tri thức.

3. Một biểu tượng của sự hội nhập văn hóa

Nhìn rộng hơn, vai trò của Phan Văn Minh còn mang một ý nghĩa biểu tượng.

Trong nhiều thế kỷ, lịch sử truyền giáo thường được trình bày như một dòng chảy một chiều từ phương Tây sang phương Đông. Nhưng lịch sử chữ Quốc ngữ lại kể một câu chuyện khác. Đó là câu chuyện của sự gặp gỡ.

Các nhà truyền giáo mang đến phương pháp ngữ học phương Tây. Các học giả Việt Nam mang đến chiều sâu của tiếng mẹ đẻ và truyền thống văn hóa dân tộc. Một bên góp phần xây dựng công cụ. Một bên làm cho công cụ ấy có linh hồn. Chính từ sự cộng tác ấy, chữ Quốc ngữ không còn là một hệ thống ký âm phục vụ truyền giáo, nhưng dần trở thành ngôn ngữ của văn học, của học thuật và của văn hóa Việt Nam. Theo nghĩa đó, Phan Văn Minh không chỉ là cộng sự của Taberd. Ngài là biểu tượng của thời điểm người Việt bắt đầu trở thành đồng tác giả của lịch sử chữ Quốc ngữ, là gương mặt tiêu biểu cho sự trưởng thành của đội ngũ trí thức Công giáo Việt Nam trong tiến trình ấy. Sự hiện diện của ngài chứng minh rằng nền từ điển học tiếng Việt không phải là thành quả riêng của các nhà truyền giáo ngoại quốc, nhưng là kết quả của một cuộc cộng tác liên văn hóa và liên thế hệ.

Chính từ sự cộng tác ấy, bộ từ điển Taberd đã vượt lên trên khuôn khổ của một công trình ngôn ngữ học để trở thành nơi gặp gỡ giữa tri thức phương Tây và truyền thống văn hóa Việt Nam. Và cũng chính trong không gian học thuật ấy, một phụ lục nhỏ bé nhưng có ý nghĩa đặc biệt đã được đưa vào cuối bộ từ điển: bài thơ lục bát Quốc ngữ Inê Tử Đạo Vãn cùng với 3 bản dịch ngoại ngữ: La tinh, Anh, Pháp[58]. Phụ lục ấy sẽ trở thành dấu mốc mở đầu cho một giai đoạn mới, khi chữ Quốc ngữ bắt đầu khẳng định khả năng sáng tạo văn học và đối thoại với thế giới qua dịch thuật.

IV. INÊ TỬ ĐẠO VÃN: KHOẢNH KHẮC CHỮ QUỐC NGỮ BƯỚC VÀO VĂN HỌC

Có những tác phẩm làm nên lịch sử không phải vì dung lượng của chúng, nhưng vì vị trí mà chúng xuất hiện. Đặt ở cuối bộ Dictionarium Anamitico-Latinum (1838), Inê Tử Đạo Vãn không chỉ là một phụ lục văn học, mà là lời tuyên bố rằng chữ Quốc ngữ đã đủ trưởng thành để chuyên chở thi ca, ký ức và linh hồn của một dân tộc.

1. Một "phụ lục" làm thay đổi ý nghĩa của cả bộ từ điển

Trong lịch sử xuất bản, phụ lục thường được xem là phần bổ sung. Người đọc có thể đọc hoặc không đọc mà vẫn hiểu nội dung chính của cuốn sách. Nhưng Inê Tử Đạo Vãn lại là một ngoại lệ. Thoạt nhìn, bài thơ chỉ chiếm vài chục trang ở cuối bộ Dictionarium Anamitico-Latinum. Nó không tham gia vào hệ thống mục từ. Nó cũng không phải là một bảng ngữ pháp hay bảng chia động từ.

Nếu chỉ nhìn theo hình thức, đây chỉ là một phụ lục. Nhưng nếu nhìn theo chức năng văn hóa, chính phụ lục ấy đã thay đổi cách hiểu về toàn bộ công trình.

Bởi lẽ, từ thời Alexandre de Rhodes cho đến đầu thế kỷ XIX, các bộ từ điển chủ yếu phục vụ việc học tiếng Việt. Chúng giúp người nước ngoài phát âm, hiểu nghĩa và sử dụng từ ngữ trong đời sống mục vụ.

Taberd vẫn làm điều đó. Nhưng ngài còn làm một việc khác. Ngài muốn người đọc nghe được tiếng Việt không chỉ hiểu nghĩa mà còn cảm được nhạc điệu; không chỉ biết cấu trúc câu mà còn cảm được linh hồn của ngôn ngữ.

Chính vì vậy, lựa chọn một bài thơ lục bát không phải là một quyết định ngẫu nhiên. Đó là một quyết định mang tính phương pháp.

2. Vì sao lại là thể thơ lục bát?

Nếu mục đích chỉ là cung cấp một văn bản luyện đọc, Taberd hoàn toàn có thể chọn một bài giáo lý, một kinh nguyện hay một đoạn văn xuôi. Nhưng ngài đã không làm như vậy. Ngài chọn lục bát. Điều ấy đáng để suy nghĩ.

Lục bát không chỉ là một thể thơ. Đó là nhịp điệu của tiếng Việt. Là nơi thanh điệu, vần luật và nhạc tính của ngôn ngữ đạt đến sự hài hòa đặc biệt. Muốn giới thiệu vẻ đẹp của tiếng Việt với độc giả phương Tây, không có hình thức nào thích hợp hơn lục bát.

Nói cách khác, Taberd không chỉ muốn giới thiệu từ vựng mà ngài muốn giới thiệu âm nhạc của ngôn ngữ Việt Nam. Đó là bước chuyển rất lớn.

3. Từ ngôn ngữ đến văn học

Ở đây xuất hiện một thay đổi có ý nghĩa lịch sử. Một ngôn ngữ chỉ thực sự trưởng thành khi nó không còn chỉ dùng để giao tiếp, nhưng có khả năng sáng tạo văn học. Điều đó đã từng xảy ra với tiếng Ý qua Dante; với tiếng Đức qua Luther; với tiếng Anh qua Chaucer rồi Shakespeare.

Đối với chữ Quốc ngữ Việt Nam, Inê Tử Đạo Vãn là một trong những dấu chỉ sớm nhất của bước chuyển ấy. Tác phẩm cho thấy chữ Quốc ngữ không còn chỉ là công cụ phiên âm. Nó có thể diễn tả: cảm xúc, bi kịch, đức tin, vẻ đẹp của thơ ca. Nó có thể trở thành ngôn ngữ văn học.

Chính vì vậy, nhiều học giả, tiêu biểu là Võ Long Tê, Đỗ Quang Chính, … đã xem tác phẩm này như một cột mốc đặc biệt trong lịch sử văn học Quốc ngữ. Những phân tích của các tác giả trên tiếp tục làm sáng tỏ giá trị ấy khi chứng minh rằng đây không chỉ là một bài thơ đạo đức, mà còn là một văn bản có ý nghĩa mở đầu đối với truyền thống thi ca Quốc ngữ và xứng đáng được nhìn nhận như một "viên ngọc quý giữa tro tàn" của văn học Việt Nam[59].

4. Một bài thơ – bốn ngôn ngữ

Có lẽ đây là chi tiết độc đáo nhất của toàn bộ công trình. Taberd không chỉ in nguyên văn Quốc ngữ. Ngài còn cho in kèm: bản dịch Latinh, Pháp ngữ, và Anh ngữ. Chi tiết này thường được nhắc đến như một thông tin thư mục. Nhưng thực ra, nó hàm chứa một tầm nhìn văn hóa rất sâu sắc. Bởi vì từ đây, bài thơ Việt Nam không còn chỉ dành cho người Việt. Nó bước vào cuộc đối thoại với thế giới. Độc giả châu Âu lần đầu tiên có thể đọc cùng một tác phẩm bằng bốn ngôn ngữ. Điều đó có nghĩa là: không chỉ từ ngữ, mà cả văn chương Việt Nam bắt đầu được dịch và giới thiệu ra quốc tế. Đây không còn là truyền giáo theo nghĩa hẹp. Đây là ngoại giao văn hóa trước khi khái niệm ấy ra đời.

Kết: Một cách nhìn mới về bộ từ điển Taberd

Từ những phân tích trên, có thể đề nghị một cách đọc khác đối với bộ từ điển Taberd.

Lâu nay, giới nghiên cứu chủ yếu xem đây là một bộ từ điển. Điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng chưa đủ. Theo chúng tôi, công trình này đồng thời là: một công trình ngôn ngữ học; một công trình Hán Nôm học; một tuyển tập văn học Quốc ngữ sơ khai; một công trình dịch thuật đa ngữ; và một tuyên ngôn về khả năng hội nhập văn hóa của tiếng Việt ...

Chính sự kết hợp ấy làm nên tính độc đáo của bộ từ điển năm 1838. Nó không còn chỉ trả lời câu hỏi: "Từ này có nghĩa là gì?" Mà bắt đầu trả lời một câu hỏi lớn hơn: "Tiếng Việt có thể nói gì với thế giới?" Đó là bước chuyển có tính lịch sử. Và chính vì vậy, có thể nói được, Inê Tử Đạo Vãn không còn là một phụ lục. Nó là linh hồn của cả bộ từ điển, có thể cưu mang qua ba chiều kích hay ba cái nhìn:

- Nhìn từ lịch sử văn học, Inê Tử Đạo Vãn là một trong những dấu mốc quan trọng của thơ Quốc ngữ buổi đầu.

- Nhìn từ lịch sử truyền giáo, tác phẩm phản ánh đời sống đức tin và chứng tá tử đạo của Giáo hội Việt Nam.

- Nhìn từ lịch sử từ điển học – cũng là góc nhìn của chuyên luận này – ý nghĩa của tác phẩm còn sâu xa hơn. Việc đưa một trường ca lục bát vào cuối Dictionarium Latino-Anamiticum đã làm thay đổi chính khái niệm về bộ từ điển. Từ đây, từ điển không còn chỉ là công cụ tra cứu, nhưng trở thành không gian gặp gỡ giữa ngôn ngữ, văn học, dịch thuật và văn hóa. Trong không gian ấy, chữ Quốc ngữ lần đầu tiên khẳng định một cách đầy tự tin khả năng diễn tả vẻ đẹp thi ca của mình trước cộng đồng học thuật quốc tế.


CHƯƠNG IV - TRUYỀN THỐNG TỪ ĐIỂN HỌC TRUYỀN GIÁO GIAI ĐOẠN HỘI NHẬP QUỐC TẾ

(Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX)

Dẫn nhập

Sau hơn hai thế kỷ hình thành và phát triển, truyền thống từ điển học Quốc ngữ của các thừa sai Công giáo đã bước vào giai đoạn trưởng thành rực rỡ nhất từ cuối thế kỷ XIX đến những thập niên đầu thế kỷ XX. Đây là thời kỳ mà các công trình từ điển không còn chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu trực tiếp của việc truyền giáo, nhưng đã trở thành những công trình ngôn ngữ học có quy mô lớn, phản ánh một vốn từ vựng phong phú, một phương pháp biên soạn ngày càng khoa học và một tầm nhìn vượt khỏi phạm vi Giáo Hội để phục vụ cả đời sống văn hóa, giáo dục, học thuật… và vươn mình hội nhập quốc tế.

Thật vậy, khi soi lại các thành tựu hiện được bảo tồn, có thể minh chứng cách hùng hồn: các thừa sai cuối thế kỷ XIX đã đưa truyền thống từ điển học truyền giáo đạt đến mức hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn phương pháp để có thể sánh vai trong hàng ngũ tự điển học thế giới. Trong số đó, nổi bật nhất là 3 linh mục: M.H. Ravier (Cố Khánh), Jean-François-Marie Génibrel và linh mục J. Masseron (Cố Ròng), ba tên tuổi tiêu biểu của Hội Thừa sai Paris (MEP), những người đã tiếp nối và phát huy di sản từ điển Quốc ngữ của các bậc tiền bối.

1. M.H. RAVIER – Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (1880)

Trong lịch sử từ điển học Công giáo tại Việt Nam, tên tuổi Ravier (1847-1899 - Cố Khánh)[60] đặc biệt gắn liền với công trình Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum, cui accedit Appendix praecipuas voces proprias cum brevi explicatione continens, xuất bản tại Ninh Phú năm 1880, nhà in của Hội Thừa sai Tây Đàng Ngoài.

Công trình được thư mục học ghi nhận với 1.270 trang chính và 72 trang Phụ lục, khổ khoảng 28 cm. Nhan đề đầy đủ có thể dịch là: “Từ điển La-tinh–An Nam hoàn chỉnh, được sắp xếp theo một trật tự mới; kèm theo Phụ lục chứa đựng những từ riêng quan trọng cùng với lời giải thích vắn tắt.”

Ngay trong nhan đề, Ravier đã xác định hai đặc điểm quan trọng của công trình: tính “completum” (hoàn chỉnh) và một “novo ordine” (trật tự mới) trong việc tổ chức tư liệu.

1.1. Tầm vóc phát triển và quy mô công trình

Nếu Taberd đã đưa từ điển Việt – La & La – Việt đến một hình thức từ điển học quy mô lớn vào năm 1838 thì đến Ravier, nguồn tư liệu ấy được tiếp tục khai triển, sắp xếp và mở rộng thành một công trình rất đồ sộ vào cuối thế kỷ XIX. Vì thế, Dictionarium Latino-Annamiticum năm 1880 được đánh giá là một mắt xích quan trọng trong chuỗi truyền thừa và phát triển di sản từ điển học của các thừa sai Công giáo tại Việt Nam.

So với nhiều từ điển La-tinh–An Nam trước đó, công trình của Ravier có quy mô đáng chú ý. Phần từ điển chính lên tới 1.270 trang, trình bày hai cột; sau đó là 72 trang của phần Phụ lục (Appendix). Tư liệu thư mục của Hội Thừa sai Paris cũng ghi nhận cấu trúc này, đồng thời cho biết tác phẩm có phần ý kiến độc giả bằng tiếng La-tinh và một phần nhập môn ngữ pháp bằng tiếng Việt trước khi bước vào phần từ điển. Quy mô ấy cho thấy Ravier không chỉ hướng tới việc cung cấp một bảng đối chiếu từ vựng La-tinh–An Nam đơn giản, mà muốn xây dựng một công cụ ngôn ngữ học và mục vụ có khả năng phục vụ lâu dài cho việc học tiếng Việt, học La-tinh và hoạt động truyền giáo.

1.2. “Phụ lục từ riêng” – một đóng góp đáng chú ý

Một điểm cần đặc biệt lưu ý trong công trình Ravier là phần: Appendix praecipuas voces proprias cum brevi explicatione continens (tức “Phụ lục gồm những từ riêng quan trọng, kèm theo lời giải thích vắn tắt.”). Phần Phụ lục dài 72 trang không phải là một chi tiết phụ về mặt học thuật. Nó cho thấy Ravier ý thức được rằng một từ điển La-tinh–An Nam không thể chỉ giải quyết những tương ứng từ vựng thông thường, mà còn phải quan tâm tới các danh từ riêng, địa danh, tên gọi và những yếu tố văn hóa đặc thù của Việt Nam.

Chính ở điểm này, công trình có giá trị vượt ra ngoài phạm vi một cuốn từ điển phục vụ việc học ngôn ngữ. Nó trở thành một nguồn tư liệu văn hóa–ngôn ngữ, phản ánh cách các thừa sai Công giáo thế kỷ XIX quan sát, ghi nhận và hệ thống hóa toàn bộ đất nước và con người, tư duy và quan niệm, phong tục và văn hóa… Việt Nam bằng phương tiện ngôn ngữ học để giới thiệu cho bạn bè quốc tế.

1.3. Vị trí của Ravier trong dòng lịch sử từ điển học Công giáo và lịch sử văn hóa Công giáo Việt Nam

Một trong những đóng góp đáng kể của Ravier là ông tiếp tục duy trì truyền thống dùng tiếng Việt Quốc ngữ để giải thích và chuyển tải các khái niệm La-tinh, trong một thời kỳ chữ Quốc ngữ đang ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động truyền giáo, giáo dục và xuất bản Công giáo. Vì thế, Ravier chính là một “cầu nối” quan trọng giữa thế hệ từ điển học Taberd và những công trình từ điển học Công giáo phát triển mạnh vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.

Giá trị của Dictionarium Latino-Annamiticum 1880 không chỉ nằm ở số lượng trang đồ sộ. Quan trọng hơn, công trình cho thấy một phương pháp tiếp cận văn hóa bằng ngôn ngữ: muốn truyền giáo, người thừa sai phải học tiếng bản địa; muốn đào tạo linh mục bản địa, phải có những công cụ ngôn ngữ thích hợp; muốn chuyển tải thần học và phụng vụ, phải tìm được những tương ứng thích đáng giữa hệ thống khái niệm La-tinh và ngôn ngữ Việt Nam.

Theo nghĩa đó, từ điển Ravier là một bộ phận của “di sản tri thức” mà các thừa sai Công giáo để lại cho Việt Nam. Nó nằm trong cùng một dòng với các công trình về ngữ pháp, giáo lý, Kinh thánh, phụng vụ, văn chương và lịch sử do các thừa sai biên soạn. Đặc biệt, việc tác phẩm được in tại Ninh Phú – nhà in của Mission du Tonkin occidental cho thấy mối liên hệ mật thiết giữa truyền giáo – đào tạo – in ấn – nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động của các thừa sai.

Với 1.270 trang từ điển và 72 trang Phụ lục, Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (Ninh Phú, 1880) xứng đáng được xem là một trong những công trình từ điển La-tinh–Việt quan trọng của thế kỷ XIX, có đầy đủ tư cách để đưa ngành từ điển học Việt Nam hội nhập quốc tế.

2. Jean-François-Marie Génibrel: người hoàn thiện truyền thống từ điển học truyền giáo

Nếu Tây Đàng Ngoài có thừa sai Ravier thì Tây Đàng Trong có thừa sai Jean-François-Marie Génibrel[61] (1851–1913), một trong những nhà từ điển học danh tiếng trong hàng ngũ thừa sai vào cuối thế kỷ XIX. Sau nhiều năm sống giữa người Việt, ngài tích lũy được vốn hiểu biết sâu rộng về ngôn ngữ, phong tục và văn hóa bản địa. Chính kinh nghiệm mục vụ lâu năm ấy đã giúp ngài biên soạn nên những bộ từ điển có giá trị vượt xa nhu cầu của một cẩm nang truyền giáo thông thường. Trong số các công trình của Génibrel, đáng chú ý nhất là: Dictionnaire annamite-français (1898); Vocabulaire français-annamite (1898); Petit dictionnaire annamite-français (1906).

Các công trình này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử từ điển học Quốc ngữ. Bộ từ điển của ngài không chỉ bao gồm ngôn ngữ tôn giáo mà còn ghi nhận nhiều từ ngữ thuộc nông nghiệp, thủ công, thương mại, hành chính, phong tục, địa danh, thực vật, động vật và văn hóa dân gian. Điểm đặc biệt của Génibrel là sự quan tâm đến ngôn ngữ đang được sử dụng trong đời sống thực tế. Nhiều phương ngữ, thành ngữ và cách diễn đạt thông dụng được đưa vào từ điển với những giải thích khá chi tiết, giúp người nước ngoài hiểu không chỉ nghĩa của từ mà còn cả bối cảnh sử dụng. Điều đó cho thấy tác giả không chỉ quan tâm đến việc dịch thuật mà còn cố gắng chuyển tải tinh thần của tiếng Việt.

Về phương pháp biên soạn, Génibrel tiếp tục sử dụng chữ Quốc ngữ làm nền tảng nhưng đồng thời đối chiếu với chữ Hán khi cần thiết, tạo điều kiện cho việc xác định chính xác nghĩa của nhiều thuật ngữ Hán-Việt. Đây là một bước tiến đáng kể trong việc chuẩn hóa vốn từ tiếng Việt trước khi các học giả Việt Nam thực hiện công việc này một cách hệ thống ở nửa đầu thế kỷ XX.

3. J. Masseron: tiếp nối và cập nhật truyền thống

Sau Génibrel, linh mục J. Masseron (1871-1947)[62], cũng thuộc Hội Thừa sai Paris, là người tiếp tục phát triển truyền thống từ điển học truyền giáo trong những thập niên đầu thế kỷ XX. Công trình tiêu biểu của ngài là: Nouveau dictionnaire français-annamite (1916); ấn bản bổ sung và sửa chữa (1922).

Nếu Génibrel chú trọng mở rộng vốn từ tiếng Việt thì Masseron đặc biệt quan tâm đến việc cập nhật những biến chuyển của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trong bối cảnh nền hành chính Đông Dương ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật phương Tây du nhập mạnh mẽ và hệ thống giáo dục mới được mở rộng, nhiều thuật ngữ mới xuất hiện mà các bộ từ điển trước chưa ghi nhận đầy đủ. Bộ từ điển của Masseron đã bổ sung hàng loạt thuật ngữ liên quan đến giáo dục, hành chính, luật pháp, khoa học, kỹ thuật và đời sống xã hội hiện đại. Nhờ đó, công trình này trở thành một tài liệu quan trọng không chỉ đối với các thừa sai mà còn đối với giáo viên, viên chức và những người học tiếng Việt hoặc tiếng Pháp trong bối cảnh Đông Dương đầu thế kỷ XX.

Mặc dù vẫn phục vụ mục tiêu truyền giáo, nhưng cách biên soạn của Masseron cho thấy từ điển học truyền giáo lúc này đã vượt ra ngoài phạm vi nội bộ Giáo hội để trở thành một ngành học thuật có giá trị đối với toàn xã hội và khả năng hội nhập quốc tế.

4. Những đóng góp âm thầm của nhiều thế hệ thừa sai

Bên cạnh các công trình lớn của Ravier, Génibrel và Masseron, còn có nhiều thừa sai khác tuy không biên soạn những bộ đại từ điển nhưng đã góp phần đáng kể vào việc làm phong phú vốn từ vựng Quốc ngữ. Qua các sách giáo lý, sách kinh, sách phụng vụ, các tập thuật ngữ, các bản dịch Kinh thánh, các sách giáo khoa và tài liệu huấn giáo, nhiều thế hệ thừa sai đã không ngừng bổ sung, hiệu đính và chuẩn hóa cách sử dụng tiếng Việt. Những công trình này tuy khiêm tốn hơn về quy mô, nhưng lại góp phần quan trọng trong việc phổ biến chữ Quốc ngữ đến các cộng đoàn Kitô hữu và tạo nên một truyền thống sử dụng tiếng Việt ngày càng thống nhất.

Đặc biệt, chính môi trường truyền giáo đã hình thành một mạng lưới cộng tác rộng lớn giữa các thừa sai và các cộng sự người Việt. Các linh mục bản xứ, các thầy giảng, các giáo lý viên và nhiều giáo dân am hiểu Hán học đã góp phần hiệu đính, giải thích và bổ sung vốn từ địa phương. Vì thế, những bộ từ điển mang tên một tác giả thực chất là kết quả của một quá trình cộng tác lâu dài giữa các nhà truyền giáo và người Việt bản địa.

5. Cuốn từ điển cuối cùng của thừa sai Công giáo

Chúng ta vừa đi lại con đường dài 3 thế kỷ của các thừa sai Công giáo trong tiến trình xây dựng và hình thành nền từ điển học Quốc ngữ khi chọn điểm khởi đầu là cuốn từ điển Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (1651) của thừa sai Dòng Tên Alexandre de Rhodes và điểm cuối là cuốn từ điển Petit dictionnaire annamite-français (Ấn bản IV (1950) của thừa sai Jean-François-Marie Génibrel thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP).

Được biết, ấn bản IV của cuốn từ điển do thừa sai Génibrel, được phát hành vào khoảng năm 1950, là lần tái bản cuối cùng mang tên Petit dictionnaire annamite-français, khép lại gần ba thế kỷ truyền thống từ điển học Quốc ngữ do các thế hệ thừa sai Công giáo khởi xướng. Điểm đáng chú ý của Petit dictionnaire annamite-français không nằm ở quy mô đồ sộ như Dictionnaire annamite-français (Ấn bản II), nhưng ở tính thực dụng và khả năng phổ biến rộng rãi. Tác phẩm được biên soạn theo hệ thống chữ Quốc ngữ, sắp xếp mục từ theo thứ tự bảng chữ cái, đồng thời có những chỉ dẫn về phát âm, biến thể ngữ âm và cách sử dụng từ ngữ trong đời sống thường nhật. Nhờ vậy, cuốn từ điển trở thành một công cụ học tập hữu hiệu cho những người mới bắt đầu học tiếng Việt, đồng thời vẫn bảo đảm độ tin cậy về mặt ngôn ngữ học.

Về phương diện học thuật, Petit dictionnaire annamite-français cho thấy thành quả của ba thế kỷ nghiên cứu tiếng Việt của các thế hệ thừa sai. Nhiều mục từ phản ánh không chỉ nghĩa từ vựng mà còn ghi nhận thành ngữ, cách dùng thông dụng, các biến thể địa phương và nhiều yếu tố văn hóa Việt Nam. Tuy giản lược hơn bộ đại từ điển năm 1898, tác phẩm vẫn kế thừa phương pháp biên soạn cẩn trọng và tinh thần tôn trọng tiếng Việt vốn là đặc điểm nổi bật trong các công trình của Génibrel.

Đặc biệt, ấn bản IV năm 1950 có ý nghĩa vượt lên trên giá trị của một lần tái bản. Đây là một trong những bộ từ điển cuối cùng do các thừa sai Công giáo trực tiếp biên soạn và xuất bản trước khi vai trò chủ đạo trong ngành từ điển học tiếng Việt chuyển dần sang các học giả Việt Nam trong nửa sau thế kỷ XX. Vì thế, Petit dictionnaire annamite-français (1950) có thể được xem như cột mốc khép lại một hành trình gần ba thế kỷ mà các thế hệ thừa sai đã không ngừng góp phần nghiên cứu, chuẩn hóa và quảng bá tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ.

Kết

Nhìn lại giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, có thể khẳng định rằng đây là thời kỳ truyền thống từ điển học do các thừa sai Công giáo khởi xướng đạt đến độ chín muồi cả về quy mô, phương pháp và tầm nhìn học thuật.

Điểm nổi bật của giai đoạn này không chỉ là sự gia tăng về số lượng mục từ hay sự hoàn thiện của kỹ thuật biên soạn, mà còn là sự thay đổi trong cách tiếp cận ngôn ngữ. Tiếng Việt không còn được nhìn đơn thuần như một phương tiện để truyền đạt giáo lý hay giao tiếp mục vụ, nhưng được nghiên cứu như một thực thể văn hóa sống động, phản ánh lịch sử, phong tục, đời sống xã hội và thế giới tinh thần của dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, các bộ từ điển của giai đoạn này đã vượt qua khuôn khổ của những cẩm nang truyền giáo để trở thành những công trình ngôn ngữ học và văn hóa học có giá trị lâu dài.

Đằng sau những thành tựu ấy là gần ba thế kỷ lao động bền bỉ của nhiều thế hệ thừa sai. Mỗi công trình mới không phủ nhận công trình trước, nhưng kế thừa, bổ sung và hoàn thiện những gì các bậc tiền bối đã dày công xây dựng. Từ những bảng từ vựng đầu tiên của Francisco de Pina đến các bộ từ điển quy mô của Ravier, Génibrel và Masseron, lịch sử từ điển học Quốc ngữ hiện lên như một tiến trình phát triển liên tục, được nuôi dưỡng bởi tinh thần nghiên cứu nghiêm túc, lòng yêu mến tiếng Việt và khát vọng hội nhập vào đời sống văn hóa của dân tộc mà các ngài được sai đến phục vụ.

Chính khi truyền thống từ điển học truyền giáo đạt tới đỉnh cao ấy, một giai đoạn lịch sử mới cũng dần mở ra. Từ những thập niên đầu của thế kỷ XX, cùng với sự trưởng thành của giới trí thức và học giả Việt Nam, công việc nghiên cứu, chuẩn hóa và phát triển tiếng Việt từng bước được tiếp nhận và phát huy bởi chính người Việt. Đây không phải là sự đứt đoạn, nhưng là sự chuyển giao tự nhiên của một truyền thống học thuật đã được hình thành và bồi đắp qua nhiều thế hệ. Di sản mà các thừa sai để lại vì thế không khép lại với những bộ từ điển cuối cùng của thời kỳ truyền giáo, nhưng tiếp tục sống động trong nền Việt ngữ học hiện đại và trong chính hành trình phát triển của chữ Quốc ngữ.

 

CHƯƠNG V - TRUYỀN THỐNG TỪ ĐIỂN HỌC: DI SẢN VÀ SỰ CHUYỂN GIAO

Dẫn nhập

Lịch sử từ điển học quốc ngữ Việt Nam là một chuỗi những công trình xuất hiện mang tính kế thừa, bổ sung và hoàn chỉnh. Sau Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của de Rhodes, truyền thống “từ điển học” tiếp tục được các thế hệ thừa sai kế thừa và phát triển qua những công trình của Pigneau de Béhaine, Taberd, Philipphê Bỉnh, Génibrel, Ravier, Masseron và nhiều tác giả khác. Mỗi công trình, với mục đích và hoàn cảnh riêng, đều góp phần bảo tồn một lớp ngữ liệu tiếng Việt và làm giàu thêm phương pháp mô tả tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh.

Tuy nhiên, đến cuối thế kỷ XIX, lịch sử ấy bắt đầu xuất hiện một sự chuyển dịch quan trọng về chủ thể. Từ chỗ phần lớn các công trình từ điển học được biên soạn bởi các thừa sai, với mục đích trước hết là phục vụ việc truyền giáo, mục vụ và giao tiếp với người Việt, hoặc đối thoại với người ngoại quốc (Âu châu), công việc khảo cứu và hệ thống hóa tiếng Việt ngày càng được tiếp nhận và đảm trách bởi chính những người Việt có học thức. Đây là những “Kitô hữu giáo dân”, những người thuộc nhóm “thừa sai” được hiểu cách rộng rãi theo như lời dạy của Sắc lệnh Truyền giáo (AD GENTES) của Công đồng Vaticanô II:

“Do đó, những người có tư chất thích hợp, đủ năng lực tinh thần và trí tuệ, sẵn sàng lãnh nhận công cuộc truyền giáo, đều được kể là có ơn gọi đặc biệt, dù là người địa phương hay ngoại quốc, là linh mục, tu sĩ hay giáo dân. Được sai đi bởi những vị có thẩm quyền hợp pháp, với đức tin và thái độ vâng phục, họ ra đi đến với những người cón xa lạ với Chúa Kitô, bởi họ được dành riêng để lo công việc mà họ được chọn để thi hành (x. Cv 13,2) như là những thừa tác viên của Tin Mừng, “để hiến lễ của chư dân được chấp nhận và thánh hóa trong Chúa Thánh Thần” (Rm 15,16) (AG số 23).

Chính trong bối cảnh ấy, đặc biệt, trong tiến trình hình thành di sản từ điển học Quốc ngữ, Huình Tịnh Paulus Của[63] (1830–1908) xuất hiện như một nhân vật đặc biệt. Ông đứng ở một điểm bản lề: ông thuộc về một thế hệ người Việt được đào luyện trong môi trường văn hóa Công giáo và Tây phương, đồng thời lại trực tiếp tham dự vào quá trình hình thành nền văn hóa chữ Quốc ngữ của người Việt. Với Đại Nam quấc âm tự vị, ông không chỉ tiếp tục công việc ghi nhận và giải thích tiếng Việt; ông còn đưa công việc ấy sang một giai đoạn mới, trong đó tiếng Việt trở thành đối tượng được khảo cứu và hệ thống hóa không chỉ để phục vụ người ngoại quốc học tiếng Việt,[64] mà còn để người Việt nhận thức, bảo tồn và chuẩn hóa chính ngôn ngữ của mình. Vì thế, Đại Nam quấc âm tự vị cần được đọc trong một hai chiều lịch sử:

- Một mặt, đây là kết quả của một truyền thống đã được chuẩn bị trong hơn hai thế kỷ bởi các công trình từ điển học của các thừa sai Công giáo. Những thành quả về chữ viết, cách ghi âm, phương pháp thu thập từ ngữ và kinh nghiệm mô tả tiếng Việt đã tạo nên một nền tảng quan trọng để các thế hệ sau có thể tiếp tục.

- Mặt khác, đây cũng là một bước chuyển giao: di sản ấy được tiếp nhận, nội hóa và chuyển hóa trong một công trình lớn của một học giả người Việt. Từ đây, truyền thống từ điển học quốc ngữ dần bước ra khỏi phạm vi thuần túy truyền giáo và trở thành một bộ phận của đời sống văn hóa, học thuật và ngôn ngữ Việt Nam hiện đại.

Trong tiến trình đó, Paulus Của và Đại Nam quấc âm tự vị có thể được xem như một điểm bản lề lịch sử: một bên là di sản từ điển học được hình thành trong môi trường truyền giáo Công giáo; bên kia là sự xuất hiện ngày càng rõ nét của một truyền thống từ điển học Việt Nam hiện đại, được thực hiện bởi chính những người Việt và phục vụ ngày càng trực tiếp cho nhu cầu văn hóa, giáo dục và ngôn ngữ của xã hội Việt Nam.

I. MỘT CON NGƯỜI – MỘT TÁC PHẨM – MỘT ĐIỂM BẢN LỀ: PAULUS CỦA VÀ ĐẠI NAM QUẤC ÂM TỰ VỊ

1. Paulus Huình Tịnh Của – một con người đứng giữa hai thế giới văn hóa

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam cuối thế kỷ XIX, Paulus Của là một nhân vật có vị trí đặc biệt. Ông không chỉ được biết đến như một nhà văn hóa, nhà ngôn ngữ học và người có công lớn đối với chữ Quốc ngữ, mà còn là một trong những người đầu tiên đưa việc khảo cứu tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ vào một quy mô có tính hệ thống. Trước ông đã có hơn hai thế kỷ hình thành và phát triển của một truyền thống khảo cứu tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Những công trình của các thừa sai Công giáo đã tạo nên một kho kinh nghiệm và ngữ liệu mà thế hệ người Việt sau này có thể tiếp nhận. Ở Huỳnh Tịnh Của, vì thế, có thể nhận thấy một sự hội tụ đáng chú ý: tri thức ngôn ngữ truyền thống của người Việt + phương thức ghi chép bằng Quốc ngữ + kinh nghiệm từ điển học Tây phương + ý thức bảo tồn và hệ thống hóa tiếng Việt.

Chính sự hội tụ này làm cho ông trở thành một nhân vật có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử từ điển học Việt Nam.

2. Đại Nam quấc âm tự vị – một công trình có tính bước ngoặt

Đại Nam quấc âm tự vị của Huình Tịnh Của được xuất bản thành hai quyển vào cuối thế kỷ XIX (1895-1896), tại Sài Gòn, và nhanh chóng trở thành một công trình có giá trị đặc biệt đối với việc nghiên cứu tiếng Việt. Điểm nổi bật của tác phẩm không chỉ nằm ở số lượng từ ngữ được thu thập, mà còn ở cách tác giả cố gắng ghi nhận một cách rộng rãi đời sống ngôn ngữ của người Việt. Đó là tiếng Việt trong đời sống hằng ngày; tiếng Việt của văn chương; những thành ngữ, tục ngữ; những từ cổ; những từ địa phương; những cách nói dân gian; những thuật ngữ liên quan đến đời sống xã hội và văn hóa.

Vì thế, Đại Nam quấc âm tự vị không đơn thuần là một cuốn “từ điển” theo nghĩa hiện đại. Nó còn là một kho tư liệu văn hóa – ngôn ngữ, phản ánh một diện rộng đời sống của xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX. Có thể nói, nếu các từ điển của các thừa sai giúp chúng ta nhìn thấy tiếng Việt qua con mắt của người học tiếng Việt từ bên ngoài, thì Đại Nam quấc âm tự vị cho phép chúng ta tiến gần hơn đến tiếng Việt trong chính đời sống của cộng đồng người Việt. Đây là một khác biệt có ý nghĩa phương pháp luận.

3. “Quấc âm” – một lựa chọn mang ý nghĩa văn hóa

Ngay trong nhan đề Đại Nam quấc âm tự vị, cụm từ “quấc âm” đã gợi lên một ý thức đáng chú ý. “Quấc âm” không chỉ đơn giản là “ngôn ngữ của Đại Nam”. Nó còn cho thấy một nỗ lực hướng sự chú ý vào âm tiếng Việt, vào vốn từ được sử dụng trong đời sống thực tế của người Việt.

Nếu truyền thống từ điển học thừa sai thường đặt tiếng Việt trong tương quan với một ngôn ngữ châu Âu – Việt–Bồ–La, Việt–La tinh, Việt–Pháp…, thì Đại Nam quấc âm tự vị đưa tiếng Việt trở thành trung tâm của chính công trình. Đây là một thay đổi quan trọng về điểm nhìn. Không phải tiếng Việt được mô tả chỉ vì nó cần được chuyển dịch sang một ngôn ngữ khác; tiếng Việt tự nó trở thành đối tượng đáng được ghi nhận, khảo cứu và bảo tồn. Từ góc độ này, Đại Nam quấc âm tự vị có thể được xem như một trong những biểu hiện sớm của ý thức ngôn ngữ học và ý thức văn hóa dân tộc trong thời kỳ Quốc ngữ đang hình thành vị trí mới trong xã hội Việt Nam.

4. Điểm bản lề: từ “di sản” đến “chuyển giao”

Nếu toàn bộ lịch sử từ điển học của các thừa sai Công giáo có thể được nhìn như một quá trình khai mở và xây dựng nền móng, thì Đại Nam quấc âm tự vị đánh dấu một bước tiến mới: người Việt tiếp nhận và làm chủ dần công việc ấy.

Điểm đặc biệt của Huình Tịnh Của không phải là ông bắt đầu một truyền thống hoàn toàn mới, mà là ông đứng trên một truyền thống đã có và đưa nó sang một hướng mới. Có thể hình dung tiến trình ấy như sau: Francisco de Pina → Gaspar do Amaral → António Barbosa → Alexandre de Rhodes → Pigneau de Béhaine, Taberd → Génibrel, Ravier, Masseron… → Huỳnh Tịnh Của.

Tất nhiên, không nên hiểu chuỗi này như một đường truyền trực tiếp, trong đó mỗi tác giả đơn giản sao chép người đi trước. Mối quan hệ giữa các công trình phức tạp hơn nhiều. Mỗi tác giả có nguồn tư liệu, mục đích, phương pháp và hoàn cảnh lịch sử riêng. Trong dòng phát triển ấy, Huình Tịnh Của có một vị trí đặc biệt: Ông là một trong những người Việt đầu tiên tiếp nhận thành quả của truyền thống ấy để xây dựng một công trình từ điển lớn, trong đó tiếng Việt được nhìn nhận từ bên trong đời sống văn hóa Việt Nam. Chính vì vậy, ông không chỉ là người “tiếp nối” mà còn là người chuyển hóa truyền thống.

Đó không phải là một cuộc chuyển giao có tổ chức, với một bên trao và một bên nhận. Đây là một sự chuyển giao lịch sử và văn hóa, diễn ra qua việc tiếp nhận phương pháp, chữ viết, ngữ liệu và kinh nghiệm khảo cứu; sau đó những yếu tố ấy được người Việt tái sử dụng trong những mục đích mới. Có thể diễn đạt tiến trình ấy bằng bốn động từ: Khai mở – Kế thừa – Nội hóa – Chuyển hóa. Các thừa sai Công giáo đã góp phần khai mở một phương thức mới để ghi nhận tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh. Các thế hệ sau kế thừa những thành quả ấy. Người Việt từng bước nội hóa phương thức khảo cứu và sử dụng Quốc ngữ như một công cụ của chính đời sống văn hóa mình. Và cuối cùng, những gì được tiếp nhận được chuyển hóa thành một nền từ điển học ngày càng độc lập với mục tiêu truyền giáo ban đầu. Paulus Của và Đại Nam quấc âm tự vị nằm ở chính vùng giao thoa của bốn chuyển động ấy.

II. MỘT TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ – MỘT SỰ CHUYỂN GIAO: TỪ DI SẢN THỪA SAI ĐẾN NỀN TỪ ĐIỂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Nếu ở phần trên, Đại Nam quấc âm tự vị của Paulus Của được nhìn như một điểm bản lề, nơi di sản từ điển học của các thừa sai Công giáo được tiếp nhận, Việt hóa và phát triển trong một công trình mang đậm ý thức văn hóa dân tộc, thì ở bình diện rộng hơn, lịch sử từ điển học Việt Nam cho thấy một tiến trình lâu dài và phức tạp hơn: một sự chuyển giao từ truyền thống từ điển học thừa sai sang nền từ điển học Việt Nam hiện đại. Đây không phải là một sự đứt đoạn. Trái lại, đó là một quá trình kế thừa – biến đổi – bản địa hóa – chuyên môn hóa. Những công trình do các thừa sai Công giáo khởi xướng từ thế kỷ XVII đã đặt những viên đá nền tảng cho việc mô tả tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh; những thế hệ kế tiếp tiếp tục hoàn chỉnh các phương pháp ghi âm, phân loại từ, giải nghĩa, đối chiếu và biên soạn; đến cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, những công trình của người Việt đã từng bước đảm nhận vai trò chủ thể trong việc sưu tầm, giải thích và hệ thống hóa vốn từ tiếng Việt.

Có thể nói, lịch sử ấy diễn ra theo một chuyển động đặc biệt: từ việc học tiếng Việt để truyền giáo → đến việc mô tả tiếng Việt như một đối tượng ngôn ngữ học → và cuối cùng đến việc người Việt tự mình xây dựng, chuẩn hóa và phát triển nền từ điển học của chính mình.

1. Từ từ điển song ngữ đến ý thức về tiếng Việt như một ngôn ngữ tự thân

Một biến đổi quan trọng trong tiến trình này là sự thay đổi về mục đích của việc biên soạn từ điển.

Ở giai đoạn đầu, phần lớn các công trình có tính chất song ngữ: Việt – Bồ, Việt – La-tinh, Việt – Pháp. Tiếng Việt được đặt trong tương quan với một ngôn ngữ châu Âu để phục vụ việc học và sử dụng tiếng Việt của người nước ngoài, đặc biệt là các nhà truyền giáo. Nhưng càng về sau, tiếng Việt càng trở thành đối tượng được nghiên cứu vì chính nó. Đây là một bước chuyển có ý nghĩa quyết định.

Nếu trong Việt – Bồ – La, câu hỏi chủ yếu là: Từ Việt này có thể diễn đạt bằng tiếng Bồ Đào Nha hoặc tiếng La-tinh như thế nào? thì trong những công trình về sau, câu hỏi dần chuyển thành: Từ Việt này nghĩa là gì? Được dùng thế nào? Có những nghĩa nào? Quan hệ với những từ khác ra sao?

Chính ở đây, từ điển học bắt đầu vượt khỏi phạm vi của một công cụ phục vụ truyền giáo hoặc giao tiếp song ngữ, để trở thành một ngành nghiên cứu ngôn ngữ có đối tượng và phương pháp ngày càng độc lập.

2. Huình Tịnh Của – điểm chuyển từ di sản thừa sai sang chủ thể Việt Nam

Nếu các thừa sai ngoại quốc là những người tiên phong trong việc khám phá, ghi âm và hệ thống hóa tiếng Việt bằng Quốc ngữ, thì Huình Tịnh Của là một trong những người Việt tiêu biểu đầu tiên tiếp nhận thành quả ấy để thực hiện một công trình có quy mô lớn, với một ý thức ngày càng rõ về tiếng Việt như một tài sản văn hóa của chính người Việt. Đại Nam quấc âm tự vị vì thế có thể được xem như một điểm bản lề.

Một mặt, công trình này vẫn đứng trên nền tảng của truyền thống từ điển học đã được các thừa sai xây dựng trong hơn hai thế kỷ. Nó tiếp tục sử dụng Quốc ngữ, tiếp tục quan tâm đến cách đọc, cách viết, nghĩa của từ và vốn từ phong phú của tiếng Việt.

Mặt khác, nó đã có một bước chuyển căn bản: chủ thể biên soạn là một người Việt, đối tượng trung tâm là tiếng Việt, và mục tiêu ngày càng hướng về việc bảo tồn, giải thích và làm giàu ý thức về ngôn ngữ dân tộc. Ở đây, sự chuyển giao không chỉ là chuyển giao kỹ thuật biên soạn, mà còn là chuyển giao quyền chủ thể văn hóa. Người Việt không còn chỉ là người được người khác nghiên cứu về tiếng nói của mình; người Việt bắt đầu trở thành chủ thể nghiên cứu, mô tả và hệ thống hóa chính ngôn ngữ của mình.

3. Từ di sản truyền giáo đến di sản văn hóa: quá trình tiếp biến và trưởng thành

Đây là một trong những điểm cần được nhấn mạnh khi đánh giá công bằng di sản từ điển học của các thừa sai Công giáo. Những công trình ấy được hình thành trong một mục tiêu nguyên thủy là truyền giáo. Nhưng giá trị lịch sử của chúng không dừng lại ở mục tiêu ấy. Qua thời gian, các công trình đã trở thành những kho tư liệu quý giá về tiếng Việt và văn hóa Việt Nam.

Bước sang thế kỷ XX, từ điển học Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ. Các công trình từ điển không còn chỉ tập trung vào việc giải nghĩa từ Việt cho người nước ngoài, mà phục vụ nhiều nhu cầu khác nhau: giáo dục, văn chương, hành chính, báo chí, nghiên cứu ngôn ngữ, khoa học và đời sống xã hội. Từ điển đơn ngữ ngày càng giữ vị trí quan trọng. Các nhà biên soạn bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến: chuẩn hóa chính tả; xác định từ loại; phân biệt các nghĩa; ghi nhận sắc thái sử dụng; phân biệt từ cổ, từ địa phương và từ phổ thông; minh họa cách dùng bằng ví dụ; xây dựng hệ thống thuật ngữ chuyên ngành; và từng bước áp dụng những thành tựu của ngôn ngữ học hiện đại.

Như vậy, từ điển học Việt Nam dần chuyển từ một hoạt động chủ yếu mang tính thực hành ngôn ngữ sang một lĩnh vực có cơ sở ngôn ngữ học và phương pháp luận chuyên môn. Nhưng sự trưởng thành ấy không phủ nhận giai đoạn tiên phong. Ngược lại, nó làm cho người ta nhìn rõ hơn giá trị của những công trình đi trước.

4. Từ “người học tiếng Việt” đến “người định hình tri thức về tiếng Việt”

Có thể diễn đạt toàn bộ sự chuyển giao bằng một thay đổi rất sâu sắc về vị thế của chủ thể: Ban đầu, người châu Âu học tiếng Việt và viết từ điển để có thể nói với người Việt. Về sau, người Việt sử dụng những thành quả ấy để hiểu, bảo tồn và diễn giải chính tiếng nói của mình. Đây là bước chuyển từ ngoại tại sang nội tại.

Trong giai đoạn đầu, cái nhìn về tiếng Việt phần lớn xuất phát từ nhu cầu của người học bên ngoài. Về sau, tiếng Việt được nhìn từ bên trong cộng đồng ngôn ngữ. Chính sự thay đổi chủ thể này làm nên ý nghĩa lịch sử sâu xa của Đại Nam quấc âm tự vị. Paulus Của chính là một trong những người đã đưa truyền thống ấy sang một không gian văn hóa mới. Nếu các thừa sai đặt nền móng cho việc ghi nhận tiếng Việt, thì những nhà trí thức Việt Nam về sau từng bước đảm nhận công việc xây dựng tri thức có hệ thống về tiếng Việt. Đó chính là sự trưởng thành của một truyền thống.

5. Từ “di sản thừa sai” đến “nền từ điển học Việt Nam”

Vì thế, khi nhìn lại toàn bộ lịch sử, cần tránh cả hai thái cực:

- Một mặt, không nên tuyệt đối hóa vai trò của các thừa sai, đến mức xem nền từ điển học Việt Nam hiện đại chỉ là sản phẩm kéo dài của từ điển học truyền giáo.

- Mặt khác, cũng không nên phủ nhận hoặc xem nhẹ vai trò khai mở của các thừa sai, bởi điều đó sẽ làm mất đi một chương quan trọng trong lịch sử hình thành Quốc ngữ và lịch sử nghiên cứu tiếng Việt.

Cách nhìn thích hợp hơn là nhìn lịch sử ấy như một tiến trình chuyển giao và tiếp biến: Các thừa sai đã góp phần đặt nền móng; các thế hệ người Việt đã tiếp nhận và chuyển hóa; các nhà ngôn ngữ học và từ điển học hiện đại đã chuyên môn hóa và phát triển; và từ đó hình thành một nền từ điển học Việt Nam ngày càng độc lập, phong phú và có phương pháp. Có thể cô đọng tiến trình ấy trong một công thức: Di sản thừa sai → Quốc ngữ → chủ thể Việt Nam → từ điển học hiện đại.

Nhưng đằng sau công thức ngắn gọn ấy là một lịch sử dài của gặp gỡ, học hỏi, cộng tác, tiếp biến và sáng tạo.

Kết

Có thể nói được, sự phát triển của từ điển học Việt Nam đã đi qua một lộ trình lịch sử với ba cột mốc: Khởi đầu – Trưởng thành – Chuyển giao.

Nhưng giữa ba điểm ấy là cả một quá trình liên tục của những con người đã dành nhiều năm tháng để học tiếng Việt, ghi chép tiếng Việt, giải thích tiếng Việt và trao lại những thành quả ấy cho thế hệ sau. Do đó, di sản từ điển học của các thừa sai Công giáo cần được nhìn không chỉ như “những cuốn từ điển cổ”, mà như một truyền thống tri thức. Một truyền thống bắt đầu từ nhu cầu truyền giáo, nhưng vượt qua giới hạn của mục tiêu ban đầu. Một truyền thống khởi đi từ những người ngoại quốc học tiếng Việt, nhưng cuối cùng được người Việt tiếp nhận và làm chủ. Một truyền thống được hình thành trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông – Tây, nhưng đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng một phương tiện biểu đạt của văn hóa Việt Nam hiện đại.

Đó chính là ý nghĩa sâu xa của hành trình: TỪ DI SẢN THỪA SAI ĐẾN NỀN TỪ ĐIỂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI.

 

KẾT LUẬN CHUNG

Nhìn lại tiến trình ba thế kỷ từ điển học Quốc ngữ, có thể nhận ra rằng lịch sử hình thành và phát triển của từ điển học Việt Nam gắn liền với lịch sử loan báo Tin mừng và hội nhập văn hóa của Giáo hội tại Việt Nam. Từ những công trình tiên phong như Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt–Bồ–La, 1651), các thừa sai đã dùng việc học tiếng Việt, ghi âm, chuẩn hóa chữ viết và biên soạn từ điển như những phương tiện thiết yếu để tiếp xúc, đối thoại và loan báo Tin mừng. Vì thế, từ điển học Quốc ngữ không chỉ là một thành tựu ngôn ngữ học, mà còn là một đóng góp to lớn vào việc kiến tạo di sản văn hóa Việt Nam ngang qua tiến trình loan báo Tin mừng tại Việt Nam.

Các “thừa sai” trong tiến trình “ba thế kỷ kiến tạo” ấy cần được hiểu theo nghĩa rộng. Không chỉ có các linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP), mà còn có các tu sĩ nam nữ thuộc nhiều dòng tu, các linh mục Việt Nam và đông đảo giáo dân Việt Nam đã tiếp nối, bổ sung và phát triển công trình của các thế hệ đi trước. Qua nhiều thế hệ, công việc học tiếng Việt, giảng dạy, dịch thuật, biên soạn, in ấn và phổ biến sách vở đã tạo nên một sự chuyển giao liên tục từ di sản của các thừa sai tiên khởi sang nền văn hóa và từ điển học Việt Nam.

Kỷ niệm 375 năm Từ điển Việt–Bồ–La (1651–2026) và 130 năm cuốn từ điển Việt ngữ đầu tiên - Đại Nam quấc âm tự vị (1896-2026), vì thế, không chỉ là dịp nhìn lại một cột mốc lịch sử của ngôn ngữ Việt Nam, mà trước hết là cơ hội để tri ân các “thừa sai tiền bối” – những người đã dành công sức, trí tuệ và cả cuộc đời để học tiếng Việt, ghi lại tiếng Việt và góp phần làm cho chữ Quốc ngữ trở thành một phương tiện quan trọng của văn hóa dân tộc. Đồng thời, biến cố này cũng mở ra một trách nhiệm mới: bảo vệ, canh tân và kiện toàn tiếng Việt, trước những biến đổi sâu rộng của xã hội và công nghệ hiện đại.

Riêng đối với người Công giáo Việt Nam hôm nay, lòng tri ân ấy không thể dừng lại ở việc tưởng nhớ quá khứ. Nó phải trở thành một động lực để hội nhập văn hóa sâu hơn và loan báo Tin mừng cách sáng tạo hơn (Tân Phúc âm hóa)[65], nhất là trong thời đại kỹ thuật số, khi ngôn ngữ, truyền thông và các phương thức tiếp nhận tri thức đang thay đổi nhanh chóng. Tiếp nối di sản của các bậc tiền nhân chính là biết trân trọng tiếng Việt, sử dụng tiếng Việt cách trong sáng và phong phú, đồng thời đem Tin mừng của Đức Kitô vào những không gian văn hóa mới của con người hôm nay.

Ba thế kỷ từ điển học Quốc ngữ vì thế không chỉ khép lại một chặng đường lịch sử, mà còn mở ra một sứ mạng mới: tri ân để tiếp nối, bảo tồn để canh tân, và hội nhập văn hóa để tiếp tục loan báo Tin mừng.

 

THƯ MỤC THAM KHẢO

1. DICTIONARIUM ANNAMITICUM LUSITANUM ET LATINUM (TỪ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA) của linh mục thừa sai Dòng Tên – ALEXANDRE DE RHODES (1593-1660) được xuất bản tại Rôma năm 1651.

2. PETIT DICTIONNAIRE ANNAMITE-FRANÇAIS (TIỂU TỪ ĐIỂN VIỆT – PHÁP) của linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris (MEP) - J. F. M. Génibrel (1851–1913) được xuất bản lần I (Ấn bản I/1906), lần II (Ấn bản II/1927), lần III (Ấn bản III mở rộng/1927), lần IV (Ấn bản IV/1950).

3. PGS.TS. PHẠM HÙNG VIỆT, “Một vài nhận xét về Từ điển Annam-Lusitan.Latin dưới góc nhìn của Từ điển học” trong tập “kỷ yếu hội thảo” về BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ (13.01.2016 TẠI Quy Nhơn), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2016.

4. NGUYỄN THỪA HỶ, Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII-XIX (qua các nguồn tư liệu phương Tây), Nxb Khoa học xã hội 2020.

5. GS. PHAN HUY LÊ, Tổng kết Hội thảo khoa học “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”.

6. ĐỖ QUANG CHÍNH, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, Nxb Tôn giáo 2008.

7. TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, Nxb An Tôn & Đuốc sáng 2021.

8. TÔNG HUẤN EVANGELII NUNTIANDI (LOAN BÁO TIN MỪNG – VIẾT TẮT: EN)

9. PHAM THỊ KIỀU LY, Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919), Nxb Văn học 2024.

10. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ Nxb Hồng Đức 2023.

11. ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ., Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, Nxb Tôn giáo 2008.

12. NGUYỄN THANH QUANG, LINH MỤC VÕ ĐÌNH ĐỆ, Một số vấn đề chữ Quốc ngữ, Nxb Khoa học xã hội 2020.

13. ALEXANDRE DE RHODES, Hành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions), Bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ, Nxb Hồng Đức 2020.

14. ROLAND JACQUES, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo Hội Công giáo Việt Nam, Định hướng Tùng thư 2004.

15. PGS.TS. PHẠM VĂN TÌNH, Francisco Pina với sự sáng tạo chữ Quốc ngữ.

16. HUẤN THỊ 1659: Huấn thị các đại diện tông tòa đi các nước Trung Quốc, Đàng Ngoài và Đàng Trong năm 1659 của Thánh bộ Truyền bá đức tin gởi cho hai Đức cha Lambert de la Motte và Fr. Pallu ngày 10.11.1659. Văn kiện có tên chính thức với những lời đầu tiên “Quoniam vos ea estis diligentia…”

17. ĐÀO QUANG TOẢN, Giáo Hội Việt Nam năm 1659, Nxb Phương Đông 2010.

18. ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ., Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, Nxb Tôn giáo 2008.

19. CHRISTOFORO BORRI, Relatione della nuova missione, Xứ Đàng Trong, Thanh Thư dịch, Nxb Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2019.

20. ALEXANDRE DE RHODES, Hành trình và truyền giáo, Nxb Hồng Đức 2020.

21. BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ GIÁO PHẬN, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, Nxb An Tôn & Đuốc sáng 2017.

22. TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những viên ngọc quý giữa tro tàn, Nxb Đồng Nai 2025.

23. ĐÀO QUANG TOẢN, Lịch sử Giáo phận Đàng Trong, Nxb Tôn giáo 2023.

24. J.L. TABERD, (TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC HỌC), Dictionarium Anamatico-Latinum, Nxb Văn học (VH) 2018.

25. HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, ỦY BAN VĂN HÓA, Tài liệu hội thảo, 25&26.10.2019, “Bốn trăm năm hình thành & phát triển chữ quốc ngữ trong lịch sử loan báo Tin mừng tại Việt Nam.

26. NGUYỄN VĂN SÂM, Văn học Nam Hà (Văn học Đàng Trong thời phân tranh), Nxb Lửa Thiêng 1972.

27. J.L. TABERD, Dictionarium Latino-Anamiticum, Nxb Marshman 1838.

28. ADRIEN LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchione, Documents historiques I, 1658-1728, Paris 1923.

29. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH – NGUYỄN THỊ THU TRANG (Chủ biên), Chữ Quốc ngữ: sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hóa Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2016.

Lm. Giuse Trương Đình Hiền

(Tháng 9/2026)

Đọc thêm bài: Tổng quan về Thừa sai Công giáo của cùng tác giả



[1] BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ, Kỷ yếu Hội thảo (13.01.2016 TẠI Quy Nhơn), Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2016, PGS.TS. PHẠM HÙNG VIỆT, “Một vài nhận xét về Từ điển Annam-Lusitan.Latin dưới góc nhìn của Từ điển học” tr. 140.

[2] NGUYỄN THỪA HỶ, Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII-XIX (qua các nguồn tư liệu phương Tây), Nxb Khoa học xã hội 2020, tr. 393.397…

[3] BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ, Kỷ yếu Hội thảo (13.01.2016 TẠI Quy Nhơn), sđd, GS. PHAN HUY LÊ, Tổng kết Hội thảo khoa học “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”, sđd, tr. 618-619.

[4] X. ĐỖ QUANG CHÍNH, Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, Nxb Tôn giáo 2008, tr. 119-124.

[5] DICTIONARIUM ANNAMITICUM LUSITANUM ET LATINUM (TỪ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA) của linh mục thừa sai Dòng Tên – ALEXANDRE DE RHODES (1593-1660) được xuất bản tại Rôma năm 1651.

[6] “Triết học ngàn đời” (Philosophia perennis): Một diễn ngôn hàm ý: ngôn ngữ có thể thay đổi theo thời gian và văn hóa; nhưng khát vọng tìm kiếm chân lý thì trường tồn. Philosophia perennis chính là ý thức về những chân lý không bị giam hãm trong một thời đại nhưng trường tồn trong canh tân phát triển.

[7] Triết học Kinh viện (Scholastic philosophy): Nền triết học phát triển chủ yếu trong các trường học và đại học Kitô giáo Tây phương thời Trung cổ, khoảng từ thế kỷ XI đến XV. Tên gọi scholasticus bắt nguồn từ schola — “trường học”. Vì thế, ban đầu “Kinh viện” không phải là tên một học thuyết, mà là một phương pháp học thuật… chủ yếu dùng lý luận, đặc biệt là logic của Aristote, để đi đến một kết luận có hệ thống.

[8] Thánh Tôma Aquinô (1225–1274): linh mục tu sĩ Dòng Đa Minh, triết gia và thần học gia vĩ đại của Giáo hội Công giáo và Kitô giáo Tây phương. Ngài sinh tại Roccasecca, gần Aquino, thuộc Vương quốc Sicilia, trong một gia đình quý tộc. Ngài học với thánh Albertô Cả và giảng dạy tại những trung tâm học thuật lớn của thời Trung Cổ, đặc biệt tại Paris và Naples. Thánh Tôma đã xây dựng một tổng hợp đặc sắc giữa triết học Aristote và thần học Kitô giáo, khẳng định rằng chân lý do lý trí khám phá và chân lý do đức tin mặc khải không thể thực sự mâu thuẫn, bởi cả hai đều bắt nguồn từ Thiên Chúa. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ngài là Summa Theologiae (Tổng luận Thần học), một công trình đồ sộ trình bày có hệ thống toàn bộ thần học Công giáo. Là tu sĩ Đa Minh, ngài sống lý tưởng contemplata aliis tradere – “trao cho người khác những hoa trái của chiêm niệm”. Ngài qua đời tại Đan viện Fossanova năm 1274, khi mới khoảng 49 tuổi. Ngài được Đức Giáo hoàng Gioan XXII tuyên thánh năm 1323. Năm 1567, Đức Piô V tuyên phong ngài là Tiến sĩ Hội thánh (Doctor Ecclesiae), và năm 1880, Đức Lêô XIII đặt ngài làm Bổn mạng các trường và các đại học Công giáo.

[9] Tổng luận Thần học (Summa Theologiae) là kiệt tác thần học lớn nhất của Thánh Tôma Aquinô (1225–1274) và là một trong những công trình có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với tư tưởng Công giáo Tây phương. Tác phẩm được thánh Tôma biên soạn khoảng 1265–1274, với mục đích trình bày toàn bộ nền tảng của thần học Kitô giáo theo một phương pháp có hệ thống, mạch lạc và có tính sư phạm. Bộ sách đồ sộ này đã được LINH MỤC GIUSE TRẦN NGỌC CHÂU – Gp. Qui Nhơn dịch sang Việt ngữ, được xuất bản bởi nhà xuất bản Phương Đông năm 2017.

[10] THÁNH TÔMA AQUINÔ, Tổng luận thần học, Bản dịch Việt ngữ, linh mục Giuse Trần Ngọc Châu – Gp. Qui Nhơn, Nxb Phương Đông 2017, Phần II, Tập 2, Câu hỏi 4, Tiết 8, tr. 80.

[11] SĐD, Câu hỏi 188, Tiết 6, tr. 1832.

[12] MONITA AD MISSIONARIOS (NHẮN NHỦ CÁC THỪA SAI): Đây là Văn kiện của Công nghị (hay Công đồng) Ajuthia 1664 (Ayutthaya – Kinh đô của Thái Lan lúc bấy giờ) được hai đức Giám mục Đại diện Tông tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài: Lambert de la Motte và Fr. Pallu, triệu tập họp cùng với 5 linh mục từ ngày Thứ Sáu sau Thứ Tư Lễ Tro tức ngày 29.02.1664 (Năm nhuận) cho đến tháng 5.1664. Văn kiện thường được gọi tắt là “MONITA”. Đây là “Kim Chỉ nam” cho công cuộc truyền giáo tại Á Châu vào thế kỷ XVII. (X. TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, Nxb An Tôn & Đuốc sáng 2021)

[13] MONITA, Chương II, Tiết 5. (X. TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, sđd, tr. 201).

[14] Tông huấn Evangelii gaudium (Niềm Vui của Tin mừng) là Tông huấn đầu tiên của Đức Giáo hoàng Phanxicô, được ban hành ngày 24 tháng 11 năm 2013, nhân dịp bế mạc Năm Đức Tin do Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI khai mở. Đây cũng chính là Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Giám mục Thế giới lần thứ XIII (2012) với chủ đề: "Tân Phúc Âm hóa nhằm thông truyền đức tin Kitô giáo."

[15] Thánh Giêrônimô (347–420): hay Jerome (Hieronymus) sinh khoảng năm 347 tại Stridon, thuộc vùng Dalmatia (nay nằm giữa Croatia và Slovenia). Sau khi học văn chương và triết học tại Rôma, ngài lãnh nhận bí tích Rửa tội rồi sống đời khổ tu tại Syria để đào sâu Kinh thánh. Nhờ thông thạo tiếng Latinh, Hy Lạp và Hípri, ngài trở thành một trong những học giả Kinh thánh lỗi lạc nhất của Giáo Hội. Theo lời mời của Đức Giáo hoàng Damasô I, ngài thực hiện việc hiệu đính và dịch toàn bộ Kinh thánh sang tiếng Latinh, hình thành bản Vulgata, bản văn chính thức của Giáo hội Tây phương suốt hơn một thiên niên kỷ. Những năm cuối đời, ngài sống tại Bêlem, điều hành tu viện, chuyên nghiên cứu, giảng dạy và trước tác. Ngài qua đời năm 420 và được tôn phong là Tiến sĩ Hội thánh.

[16] Thánh Cyrillô (826-869) và Mêthôdiô (815-885): Cyrillô and Methôdiô là hai anh em ruột, sinh tại Thessalonica (Hy Lạp) vào đầu thế kỷ IX. Cyrillô tên khai sinh là Constantinus, nổi tiếng uyên bác về triết học và ngôn ngữ; Mêthôdiô từng là quan chức trước khi trở thành đan sĩ. Năm 863, hai ngài được sai đến truyền giáo cho các dân tộc Slav tại Đại Moravia. Thánh Cyrillô sáng tạo bảng chữ cái Glagolitic, nền tảng cho chữ Kirin (Cyrillic) sau này, đồng thời hai ngài dịch Kinh thánh và các sách phụng vụ sang tiếng Slav. Công trình của các ngài đặt nền móng cho văn hóa và Kitô giáo của nhiều dân tộc Đông Âu. Năm 1980, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tuyên phong hai ngài là Đồng Bổn mạng châu Âu, cùng với thánh Biển Đức.

[17] Linh mục Matteo Ricci (1552–1610): Sinh năm 1552 tại Macerata (Ý) và gia nhập Dòng Tên năm 1571. Sau thời gian học tại Rôma dưới sự hướng dẫn của nhà toán học Christopher Clavius, ngài được sai sang Viễn Đông năm 1578. Từ năm 1583, ngài bắt đầu sứ vụ truyền giáo tại Trung Hoa và nhanh chóng nổi tiếng nhờ uyên thâm về toán học, thiên văn, địa lý và triết học. Ricci chủ trương hội nhập văn hóa, mặc trang phục nho sĩ, sử dụng tiếng Hán thành thạo và đối thoại với giới trí thức Trung Hoa. Ngài biên soạn nhiều tác phẩm bằng Hán văn, trong đó nổi tiếng là Bản đồ thế giới Vạn Quốc Toàn Đồ (Kunyu Wanguo Quantu) và nhiều sách triết học, khoa học. Phương pháp truyền giáo của ngài mở ra một hướng đi mới cho công cuộc loan báo Tin mừng tại châu Á. Ngài qua đời tại Bắc Kinh năm 1610 và hiện đang trong tiến trình được phong chân phước.

[18] Roberto de Nobili (1577–1656): Roberto de Nobili sinh năm 1577 trong một gia đình quý tộc tại Montepulciano (Ý). Gia nhập Dòng Tên năm 1597, ngài được sai đến Ấn Độ và bắt đầu truyền giáo tại Madurai từ năm 1606. Ngài chọn lối sống khổ hạnh như một đạo sĩ Ấn Độ, học thông thạo tiếng Tamil, Sanskrit và Telugu, đồng thời nghiên cứu sâu triết học và văn hóa Hindu. Roberto de Nobili phân biệt giữa các tập tục văn hóa và tín ngưỡng tôn giáo, nhờ đó phát triển một phương pháp hội nhập văn hóa mang tính tiên phong trong lịch sử truyền giáo. Dù gặp nhiều tranh luận trong Giáo hội, đường hướng của ngài về sau được nhìn nhận như một đóng góp quan trọng cho thần học hội nhập văn hóa. Ngài qua đời tại Mylapore (Ấn Độ) năm 1656, để lại ảnh hưởng sâu rộng đối với các thế hệ thừa sai sau này, đặc biệt tại châu Á.

[19] Tông huấn Evangelii Nuntiandi (Loan báo Tin mừng – Viết tắt: EN) do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ban hành ngày 8.12.1975, sau Thượng Hội đồng Giám mục năm 1974 về việc truyền giảng Tin mừng trong thế giới hiện đại.

[20] PHAM THỊ KIỀU LY, Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919), Nxb Văn học 2024, tr. 58.

[21] MONITA, Chương II, Tiết 5. (X. TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Bình vẫn chưa hề cũ, sđd, tr. 201).

[22] Alexandre de Rhodes (1593 - 1666): Là công dân Avignon lãnh địa của Giáo hoàng (1348 - 1791). Ngài hoạt động tại Đàng Trong hai lần: Lần đầu từ năm 1624 - 1626; lần hai từ năm 1640 - 1645; tại Đàng ngoài từ năm 1627 - 1630. Sau khi (vĩnh viễn) rời Đàng Trong, cha Đắc Lộ đã về giáo đô Rôma để tại đây (sau đó tại Pháp) ngài tích cực vận động Tòa thánh gởi Giám mục sang vùng viễn Đông. Từ năm 1655-1660 ngài đi truyền giáo ở Ba Tư và qua đời tại Isfahan. Trong thế hệ thừa sai Dòng Tên đầu tiên truyền giáo tại Việt Nam, có thể nói được, ngài có công lớn nhất trong việc kiện toàn chữ Quốc ngữ khi đích thân biên soạn và xuất bản hai tác phẩm Quốc ngữ (được xem như) đầu tiên: Tự điển “Việt-Bồ-La” và cuốn giáo lý “Phép giảng tám ngày”. Cả hai cuốn được in tại nhà in đa ngữ của Thánh Bộ Truyền bá Đức tin tại Rôma năm 1651. (X. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, , Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, sđd, CHƯƠNG BA, CUỘC ĐỜI, SỨ VỤ VÀ CÁC TÁC PHẨM CỦA CHA ALEXANDRE DE RHODES, từ tr. 128-302)

[23] X. ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ., Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, Nxb Tôn giáo 2008, Mục 2: Sơ lược giai đoạn thành hình chữ Quốc ngữ (1620-1648), tr. 22-104.

[24] X. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, Linh mục Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ, Nxb Hồng Đức 2023, tr. 264-267.

[25] X. NGUYỄN THANH QUANG, LINH MỤC VÕ ĐÌNH ĐỆ, Một số vấn đề chữ Quốc ngữ, Nxb Khoa học xã hội 2020, “KHÔNG CÓ ÔNG TỔ DUY NHẤT CỦA CHỮ QUỐC NGỮ”, tr. 296-316.

[26] SĐD, tr. 315.

[27] Francisco de Pina (1585–1625): Người Bồ Đào Nha, hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong khoảng từ năm 1617 và chết đuối ở Đà Nẵng ngày 16.12.1625. Rất giỏi tiếng Việt và là thầy dạy chữ Quốc ngữ cho cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), và là một trong số những linh mục Dòng Tên có công xây nền móng cho hệ thống chữ Quốc ngữ. Từ năm 1618, tại cư sở Nước Mặn (Qui Nhơn), cha Pina cùng với các cộng sự viên địa phương, đã dịch các kinh căn bản của Công giáo như Lạy Cha, Kính mừng, Tin Kinh… sang tiếng Việt. Thiết lập cư sở Dinh Chiêm (Quảng Nam) năm 1623 và biến nơi này thành “trường dạy tiếng Việt” cho những thừa sai đến sau, trong đó có hai học trò xuất sắc: Alexandre de Rhodes và Antonio de Fontes…. (X. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, sđd, Ghi chú số 81, tr. 73).

[28] ALEXANDRE DE RHODES, Hành trình và truyền giáo (Divers voyages et missions), Bản dịch Việt ngữ của Hồng Nhuệ, Nxb Hồng Đức 2020, tr. 85.

[29] Để hiểu rõ về vị thừa sai Dòng Tên có công rất lớn về việc khai sinh chữ Quốc ngữ trong giai đoạn “đặt nền móng”, xin đọc thêm các tác giả và tác phẩm sau:

- ROLAND JACQUES, Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo Hội Công giáo Việt Nam, Định hướng Tùng thư 2004, Tome 1, tr. 81-91.

- PHAM THỊ KIỀU LY, Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919), sđd, tr. 97-98.

- PGS.TS. PHẠM VĂN TÌNH, Francisco Pina với sự sáng tạo chữ Quốc ngữ, Kỷ yếu Hội thảo “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”, sđd, tr. 59-62.

- X. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, Linh mục Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, sđd, tr. 259-264.

[30] “Huấn thị 1659” là văn kiện mang tên (đầu tiên) “Instructio vicariorum apostolicorum ad regna Sinarum, Tonchini et Cocincinae proficiscentium 1659” (Huấn thị các đại diện tông tòa đi các nước Trung Quốc, Đàng Ngoài và Đàng Trong năm 1659) của Thánh bộ Truyền bá đức tin gởi cho hai Đức cha Lambert de la Motte và Fr. Pallu ngày 10.11.1659. Văn kiện có tên chính thức với những lời đầu tiên “Quoniam vos ea estis diligentia…” (tên văn kiện theo truyền thống). Nhưng thông thường người ta gọi văn kiện này là “Huấn thị 1659” (X. ĐÀO QUANG TOẢN, Giáo Hội Việt Nam năm 1659, Nxb Phương Đông 2010, tr. 45-73).

[31] HUẤN THỊ 1659, Phần III: Tại nơi truyền giáo, mục 13: Tôn trọng cổ tục bản xứ. (X. ĐÀO QUANG TOẢN, Giáo Hội Việt Nam năm 1659, sđd, tr. 66).

[32] LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, Linh mục Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, sđd, tr. 265.

[33] Ma Cao còn được gọi là Áo Môn, một thuộc địa của Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16, là trung tâm truyền giáo của Dòng Tên tại Á châu. (X. ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ., Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, Nxb Tôn giáo, Ghi chú 5, tr. 15).

[34] CHRISTOFORO BORRI, Relatione della nuova missione, Xứ Đàng Trong, Thanh Thư dịch, Nxb Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2019, tr. 133-134. (Xem thêm: ALEXANDRE DE RHODES, Hành trình và truyền giáo, Nxb Hồng Đức 2020, tr. 80-81; ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ., Dòng Tên trong xã hội Đại Việt 1615-1773, Nxb Tôn giáo 2008, tr. 18-20; BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ GIÁO PHẬN, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, Nxb An Tôn & Đuốc sáng 2017, tr. 46-49).

[35] Francesco Buzomi, S.J. (1576–1639) là một trong những linh mục Dòng Tên truyền giáo tiên phong có vai trò quyết định trong việc đặt nền móng cho sứ vụ của Dòng Tên tại Đàng Trong. Tuy tên tuổi của ngài thường bị lu mờ trước Alexandre de Rhodes hay Francisco de Pina, nhưng xét về mặt tổ chức và lịch sử truyền giáo, Buzomi chính là người khai mở và xây dựng cơ sở truyền giáo đầu tiên của Dòng Tên tại Đàng Trong. Ngài là người khai mở sứ vụ Dòng Tên tại Đàng Trong đầu tiên (1615) và hoạt động tại đây dài lâu nhất; là vị Bề trên đầu tiên của đoàn truyền giáo và của Cư sở Nước Mặn; là nhà tổ chức đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của cộng đoàn Dòng Tên; là người tạo điều kiện để các thừa sai như Francisco de Pina và Alexandre de Rhodes chuyên tâm nghiên cứu tiếng Việt và phát triển chữ Quốc ngữ. Riêng ngài, cũng là người thông thạo tiếng Việt và đã để lại nhiều từ Quốc ngữ đầu tiên mà kho sử liệu Dòng Tên vẫn còn lưu giữ.

[36] Cristoforo Borri (1583 - 1632): Người Ý, một nhà Dân tộc học, thiên văn học, hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong từ năm 1618-1622, là tác giả của tác phẩm “Xứ Đàng Trong” (Nguyên tác: Relazione della nuova missinone dei P.P. della Compagnia di Gesù, Roma 1631. Thanh Thư dịch, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh 2019), một ký sự nghiên cứu đầy giá trị toàn cảnh vùng Đàng Trong về lịch sử, địa lý, văn hóa, chính trị, quân sự, thương mại…, được xuất bản khoảng 16 lần (từ 1631-1931), và ngoài bản văn bằng tiếng Ý, đã được dịch ra 5 thứ tiếng Latinh, Pháp, Hà Lan (Plemish), Đức, Anh.

[37] NGUYỄN THANH QUANG, LINH MỤC VÕ ĐÌNH ĐỆ, Một số vấn đề chữ Quốc ngữ, sđd, tr. 89-92. (X. BAN BIÊN SOẠN LỊCH SỬ GIÁO PHẬN, Giáo phận Qui Nhơn qua dòng thời gian, Nxb An Tôn & Đuốc sáng 2017.Cư sở Nước Mặn, Qui Nhơn, tr.51-54).

[38] SĐD, Nước Mặn-Trường dạy Quốc ngữ đầu tiên của các giáo sĩ Phương Tây (Nguyễn Thanh Quang), tr. 135-140.

[39] Nhà in của Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Typographia Polyglotta Sacrae Congregationis de Propaganda Fide): Còn được gọi là Nhà in Đa ngữ Propaganda Fide, được thành lập tại Rôma vào năm 1626, chỉ bốn năm sau khi Đức Giáo hoàng Grêgôriô XV thành lập Thánh Bộ De Propaganda Fide (1622). Mục đích của nhà in là phục vụ trực tiếp công cuộc truyền giáo bằng cách in Kinh thánh, sách giáo lý, phụng vụ và các tác phẩm ngôn ngữ học bằng những thứ tiếng của các dân tộc trên thế giới. Điểm đặc biệt của nhà in là khả năng sử dụng nhiều hệ thống chữ viết và mẫu tự khác nhau. Ngay từ những năm đầu, nhà in đã thu thập các bộ chữ Hy Lạp, Latinh, Slavơ và nhiều loại chữ Đông phương; vì thế nó nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm in ấn đa ngữ quan trọng nhất của châu Âu.

[40] Phép giảng tám ngày (Cathechismus pro iis, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisus): Đây là cuốn sách Giáo lý được A. De Rhodes biên soạn và xuất bản tại Rôma năm 1651, đồng thời với Từ điển Việt–Bồ–La. Đây là một trong những sách giáo lý Công giáo đầu tiên được in bằng chữ Quốc ngữ, trình bày giáo lý căn bản cho người dự tòng trong tiến trình tám ngày chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Tác phẩm đồng thời là một chứng tích đặc biệt về sự hình thành chữ Quốc ngữ và văn xuôi tiếng Việt, có giá trị cả về lịch sử truyền giáo, thần học và ngôn ngữ học. (X. ĐỖ QUANG CHÍNH, SJ., Lịch sử chữ Quốc ngữ 1620-1659, sđd, tr. 118-119).

[41] Linguae Annamiticae seu Tunchinensis Brevis Declaratio nghĩa là “Khái luận ngắn về tiếng Annam hay tiếng Đàng Ngoài”: Tác phẩm do cha Alexandre de Rhodes soạn bằng tiếng Latinh và được in tại Rôma năm 1651, đồng thời với Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (Từ điển Việt–Bồ–La) và “Phép giảng tám ngày”. Đây được xem là bản ngữ pháp tiếng Việt cổ nhất và là một văn kiện nền tảng cho lịch sử nghiên cứu tiếng Việt. Khảo luận dài khoảng 31 trang, trình bày tiếng Việt theo mô hình ngữ pháp Latinh đương thời. Tác phẩm gồm 8 chương, lần lượt đề cập đến chữ cái và cách ghi âm, thanh điệu, danh từ, đại từ, động từ, các từ loại khác và cú pháp. Đặc biệt, Đắc Lộ nhận ra một đặc điểm căn bản của tiếng Việt: đây là một ngôn ngữ không biến cách và không chia động từ theo kiểu các ngôn ngữ châu Âu; ý nghĩa về số, thời và thể được biểu đạt phần lớn nhờ hư từ, tiểu từ và ngữ cảnh. Một đóng góp đặc biệt quan trọng là phần mô tả sáu thanh điệu và cách dùng các dấu thanh trong hệ thống chữ La-tinh hóa tiếng Việt. Trong lịch sử “Di sản Từ điển học Quốc ngữ của các Thừa sai Công giáo”, Brevis Declaratio giữ một vị trí rất đặc biệt: nếu Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum là một trong những nền móng đầu tiên của từ điển học Quốc ngữ, thì Brevis Declaratio chính là một trong những nền móng đầu tiên của ngữ pháp học tiếng Việt bằng mẫu tự La-tinh.

[42] MEP: Hội Thừa Sai Hải Ngoại Paris, tên tiếng Pháp: La Société des Missions Etrangères de Paris (cách viết tắt: Les MEP, sở dĩ phải có thêm chữ “de Paris”, vì muốn phân biệt với một Hội thừa sai khác tại Pháp do Cha thánh Vincent de Paul thành lập để đào tạo người đi truyền giáo Ba Tư). Xem đầy đủ lịch sử hình thành MEP qua bài viết: Lịch sử hình thành Hội Thừa Sai Paris của tác giả MICHEL TRƯƠNG, đăng trên trang web của HĐGMVN ngày 20.8.2021, link: LƯỢC SỬ HÌNH THÀNH HỘI THỪA SAI PARIS.

[43] Đức cha Pierre-Joseph-Georges Pigneau de Béhaine (1741-1799): sinh ngày 2 tháng 11 năm 1741 tại Origny-en-Thiérache, thuộc miền bắc nước Pháp; gia nhập Hội Thừa sai Paris và được thụ phong linh mục năm 1765. Năm 1774 được tấn phong Giám mục hiệu tòa Adran,làm Giám mục Tông tòa Đàng Trong. Trong sử liệu Việt Nam, ngài thường được gọi là Đức cha Bá Đa Lộc. Trong bối cảnh chính trị – xã hội đầy biến động của Việt Nam cuối thế kỷ XVIII, việc truyền giáo gặp rất nhiều khó khăn. Đức cha Pigneau de Béhaine không chỉ hoạt động như một nhà truyền giáo, mà còn là một nhà giáo dục và tổ chức truyền giáo. Chính trong bối cảnh này, ngài có những đóng góp đáng kể cho việc nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam. Tên tuổi Pigneau de Béhaine còn gắn với công trình từ điển Dictionarium Anamitico-Latinum (Tự điển Việt–La-tinh 1772). Năm 1784, Đức cha Pigneau de Béhaine đưa hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh sang Pháp, nhằm tìm kiếm sự trợ giúp của vua Louis XVI cho Nguyễn Ánh. Năm 1787, ngài đại diện cho Nguyễn Ánh trong việc vận động sự trợ giúp của Pháp. Ngày 28 tháng 11 năm 1787, tại Versailles, một Hiệp ước liên minh tấn công và phòng thủ giữa Pháp và Nguyễn Ánh được ký kết. Hiệp ước dự kiến Pháp hỗ trợ Nguyễn Ánh về quân sự để giành lại quyền kiểm soát lãnh thổ; đổi lại, phía Nguyễn Ánh cam kết dành cho Pháp một số quyền lợi về lãnh thổ, thương mại và truyền giáo. Năm 1799, khi Nguyễn Ánh tiến hành chiến dịch chống Tây Sơn ở vùng Qui Nhơn, Đức cha Pigneau de Béhaine vẫn đi theo đoàn quân. Ngày 9 tháng 10 năm 1799, Đức cha qua đời tại Mỹ Cang, thuộc vùng Bình Định ngày nay, hưởng thọ 57 tuổi. Cái chết của ngài xảy ra trước khi Nguyễn Ánh hoàn toàn đánh bại Tây Sơn và lên ngôi hoàng đế năm 1802.

[44] Gironimo Majorica (1591 - 1656): Người Ý, hoạt động truyền giáo tại Đàng Trong từ năm 1624 - 1629 và tại Đàng Ngoài từ năm 1632 - 1656. Ngài là chuyên viên Hán Nôm và là tác giả 48 tác phẩm bằng chữ Nôm cả văn xuôi lẫn văn vần, trong số đó vẫn tồn tại 30 tác phẩm cho tới hôm nay. (X. LM. ANTOINE BÙI KIM PHONG, , Alexandre de Rhodes, S.J. (1593-1660) và công cuộc truyền giáo tại Việt Nam, sđd, tr. 257).

[45] Jean-Louis Taberd (1794–1840): sinh ngày 18 tháng 6 năm 1794 tại Saint-Étienne, Pháp. Ngài được thụ phong linh mục tại Lyon ngày 27 tháng 7 năm 1817 và gia nhập Hội Thừa sai Paris (MEP) năm 1820 để lên đường truyền giáo tại Đàng Trong. Năm 1827, Taberd được bổ nhiệm làm Đại diện Tông tòa Đàng Trong; năm 1830, ngài được tấn phong Giám mục hiệu tòa Isauropolis. Trước những cuộc bách hại đạo dưới triều Minh Mạng (1833), Đức cha Taberd phải rời Việt Nam. Ngài lần lượt đến Thái Lan, Penang rồi Calcutta (Ấn Độ). Tại Calcutta, với sự hỗ trợ của các học giả và giới trí thức thuộc Hội Á châu Bengal, ngài đã biên soạn bộ Dictionarium Anamitico-Latinum et Latino-Anamiticum, xuất bản tại Serampore năm 1838. Đây là một công trình lớn, gồm phần Việt–La tinh (Anamitico-Latinum – Cuốn I) và La tinh–Việt (Latino-Anamiticum – Cuốn II), với khoảng hơn 800 trang. Năm 1838, Taberd được bổ nhiệm làm Đại diện Tông tòa Bengal, nhưng ngài vẫn gắn bó với sứ mạng và Giáo hội Việt Nam. Ngài qua đời ngày 31 tháng 7 năm 1840, hưởng dương 46 tuổi.

[46] Lm. Philipphê Bỉnh (1759–1832/1833): Philipphê Bỉnh, còn gọi là Philipphê do Rosário, sinh năm 1759 tại Hải Dương, thuộc Đàng Ngoài. Ông vào chủng viện khoảng năm 1775, được đào tạo trong truyền thống Công giáo của các thừa sai Dòng Tên và sau đó được thụ phong linh mục. Trong bối cảnh Dòng Tên bị giải thể năm 1773, cộng đoàn tín hữu Việt Nam thuộc truyền thống Dòng Tên ở Đàng Ngoài đứng trước nguy cơ mất sự chăm sóc mục vụ theo truyền thống của mình.

Năm 1796, Philipphê Bỉnh được cử cùng một số linh mục Việt Nam sang Bồ Đào Nha, với sứ mạng vận động triều đình Bồ Đào Nha và Tòa thánh tìm giải pháp cho tình trạng Giáo hội và các cộng đoàn Công giáo Việt Nam thuộc truyền thống Dòng Tên. Ông đến Lisboa và, do hoàn cảnh phức tạp lúc bấy giờ, cha Bỉnh phải sống tại Bồ Đào Nha hơn ba mươi năm, cho đến cuối đời. Trong thời gian lưu trú tại Lisboa, ngài đã dành phần lớn cuộc đời còn lại cho mục vụ, nghiên cứu, biên soạn và sáng tác. Ngài để lại một khối lượng tác phẩm rất phong phú, khoảng hơn hai mươi tác phẩm, viết bằng chữ Quốc ngữ, chữ Nôm, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Latinh, bao gồm các tác phẩm tôn giáo, hạnh các thánh, lịch sử Giáo hội, lịch sử Việt Nam, ký sự và từ vựng học. Đặc biệt, đối với lịch sử chữ Quốc ngữ và từ điển học Việt Nam, Philipphê Bỉnh có một vị trí rất đáng chú ý. Ông đã biên soạn “Sách tự vị tiếng nước ta cùng tiếng nước người” (1797), một công trình từ vựng Việt–Bồ và Bồ–Việt, cho thấy chữ Quốc ngữ không chỉ được sử dụng để truyền bá giáo lý mà đã trở thành phương tiện ghi chép, hệ thống hóa và đối chiếu ngôn ngữ trong tay một tác giả Việt Nam. Bên cạnh đó, các tác phẩm như Nhật trình kim thư khất chính Chúa giáo, Truyện Annam Đàng Ngoài, Truyện Annam Đàng Trong và đặc biệt Sách sổ sang chép các việc là những tư liệu quý về tiếng Việt, văn hóa Việt Nam, đời sống Công giáo và xã hội Bồ Đào Nha cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX. Cha Philipphê Bỉnh qua đời tại Lisboa, thường được xác định vào năm 1832, dù một số tài liệu ghi 1833.

[47] PHAM THỊ KIỀU LY, Lịch sử chữ Quốc ngữ (1615-1919), sđd, tr. 272-276.

[48] Phần này trích lại trong tác phẩm: TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những viên ngọc quý giữa tro tàn, Nxb Đồng Nai 2025, tr. 221-226.

[49] X. ĐÀO QUANG TOẢN, Lịch sử Giáo phận Đàng Trong, Nxb Tôn giáo 2023, tr. 409-411.

[50] SĐD, tr. 410.

[51] J.L. TABERD, (TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC HỌC), Dictionarium Anamatico-Latinum, Nxb Văn học (VH) 2018 , tr. 52 (Lii): Bài viết của TRẦN VĂN TOÀN, Tiến sĩ triết học, cử nhân thần học, cựu Giáo sư Đại học Công giáo Lille (Pháp): “Cũng nên chú ý rằng các sách Nôm của người Công giáo Việt Nam trong gần bốn thế kỷ đều gọi chữ Nôm là quốc ngữ, để phân biệt nó với chữ Hán là chữ viết của người Tàu. Gần đây chúng ta mới gọi chữ viết theo mẫu tự la tinh là chữ quốc ngữ”.

[52] HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, ỦY BAN VĂN HÓA, Tài liệu hội thảo, 25&26.10.2019, “Bốn trăm năm hình thành & phát triển chữ quốc ngữ trong lịch sử loan báo Tin mừng tại Việt Nam, tr. 344-351.

[53] J.L. TABERD, (TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU QUỐC HỌC), Dictionarium Anamatico-Latinum, sđd, tr. 48 (xLviii).

[54] X. NGUYỄN VĂN SÂM, Văn học Nam Hà (Văn học Đàng Trong thời phân tranh), Nxb Lửa Thiêng 1972, tr. 231-244.

[55] SĐD, tr. 232, Ghi chú số 5.

[56] J.L. TABERD, Dictionarium Latino-Anamiticum, Nxb Marshman 1838 (Phần dẫn nhập: Bổn dạy tiếng La tinh: từ tr. 7-81; Phụ lục 1: từ tr. 803-916: Từ vựng phổ thông tứ ngữ (Anh, Pháp, La tinh, Quốc ngữ); Phụ lục 2: từ trang 917-942: Inê tử đạo vãn).

[57] Thánh Linh mục tử đạo Philípphê Phan Văn Minh (1815–1853): Sinh năm 1815 tại Cái Mơn, Vĩnh Long, trong một gia đình Công giáo đạo đức. Ngài là người con thứ mười hai trong gia đình có 14 người con. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, Phan Văn Minh được người chị cả tận tình chăm sóc và hướng dẫn đời sống đức tin. Năm 1828, lúc mới 13 tuổi, sau khi lãnh nhận Bí tích Thêm Sức từ Đức cha Jean-Louis Taberd, cậu xin gia nhập nhà trường Latinh và được nhận vào Chủng viện Lái Thiêu. Khi cuộc bách hại đạo dưới triều Minh Mạng trở nên gay gắt, Chủng viện Lái Thiêu bị giải tán. Thầy Minh được đưa sang Đại Chủng viện Penang (Pénang, Malaysia) tiếp tục học tập và tu luyện. Tại đây, thầy nổi bật về khả năng La tinh, tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ và chữ Hán, đồng thời được đánh giá cao về đạo đức, trí thông minh và tinh thần phục vụ. Một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong hành trình của thầy Minh là việc Đức cha Taberd gọi thầy sang Calcutta (Ấn Độ) để cộng tác trong công trình từ điển học. Khoảng cuối thập niên 1830, thầy cùng một số cộng sự người Việt tham gia giúp Đức cha Taberd chỉnh lý và hoàn thành bộ Dictionarium Anamitico-Latinum và Latino-Anamiticum, được xuất bản tại Serampore năm 1838. Công trình này kế thừa bản thảo từ điển của Đức cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) và trở thành một trong những công trình từ điển Việt–La, La – Việt quan trọng nhất của thế kỷ XIX. Sau thời gian học tập, thầy Minh trở về Việt Nam và được Đức cha Étienne-Théodore Cuénot Thể truyền chức linh mục khoảng năm 1846. Ngài thi hành mục vụ tại nhiều vùng thuộc Nam Bộ, đặc biệt quan tâm đến việc thăm viếng, giảng dạy giáo lý và nâng đỡ đời sống đức tin của các tín hữu trong hoàn cảnh Giáo Hội vẫn thường xuyên phải đối diện với những đợt cấm đạo. Cha Phan Văn Minh còn để lại một di sản đáng kể trong văn học Công giáo bằng chữ Quốc ngữ, đặc biệt qua di cảo thi ca “Phi Năng thi tập”, một “thi đàn” văn chương Công giáo quan trọng ở Nam Bộ giữa thế kỷ XIX (bao gồm 35 bài thơ của cha Minh và khoảng 100 bài thơ họa của các thi hữu).

Cuối năm 1852, khi cuộc bách hại dưới triều vua Tự Đức trở nên khốc liệt, cha Minh bị bắt cùng với ông trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu và một số tín hữu ngày 25 tháng 2 năm 1853. Sau một thời gian bị giam tại Vĩnh Long, ngài bị kết án tử hình xử trảm ngày 3 tháng 7 năm 1853 tại pháp trường Đình Khao, Vĩnh Long, hưởng dương 38 tuổi. Ngài được Đức Giáo hoàng Lêô XIII tuyên Chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988, cùng với 116 vị tử đạo Việt Nam. Lễ kính ngài được cử hành ngày 3 tháng 7.

[58] Về tác giả của tác phẩm “INÊ TỬ ĐẠO VÃN” và dịch giả tác phẩm này sang 3 ngoại ngữ La tinh, Pháp, Anh, nhiều dữ liệu lịch sử chứng minh rằng đó là linh mục Laurent Huỳnh Lâu (1656-1732), bào huynh của nhân vật “INÊ TỬ ĐẠO” (X. LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những viên ngọc quý giữa tro tàn, sđd, tr. 249-267; ADRIEN LAUNAY, Histoire de la Mission de Cochinchione, Documents historiques I, 1658-1728, Paris 1923).

[59] X. LM. GIUSE TRƯƠNG ĐÌNH HIỀN, Những viên ngọc quý giữa tro tàn, sđd, tr. 256-270.

[60] Marcel-Henri Ravier (Cố Khánh) (1847–1899): sinh ngày 4.9.1847 tại Buxières-lès-Clefmont, thuộc Giáo phận Langres, Pháp. Ngài gia nhập Hội Thừa sai Paris (MEP), được thụ phong linh mục ngày 11.6.1870. Hoạt động truyền giáo tại Tây Đàng Ngoài (Bắc Kỳ). Từ năm 1873, Ravier phục vụ tại Đại chủng viện Phúc Nhạc, giảng dạy và sau đó làm bề trên chủng viện từ năm 1892. Cố Khánh là một nhà truyền giáo đặc biệt quan tâm đến ngôn ngữ, giáo dục và văn hóa Việt Nam. Công trình quan trọng nhất của ngài là Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (Ninh Phú, 1880). Tác phẩm dựa trên nền tảng từ điển Latinh–Annam của Đức cha Taberd, nhưng được Ravier sắp xếp, bổ sung và phát triển đáng kể. Ngài còn biên soạn nhiều sách giáo khoa, ngữ pháp, địa lý, văn học và lịch sử bằng Quốc ngữ. Năm 1899, ngài qua đời tại Montbeton, Pháp, sau một thời gian trở về nước chữa bệnh.

[61] Jean-François-Marie Génibrel (1851–1914): sinh ngày 20.4.1851 tại Castres, Giáo phận Albi, Pháp. Ngài gia nhập Hội Thừa sai Paris và được thụ phong linh mục ngày 22.5.1875; sau đó lên đường truyền giáo tại Tây Đàng Trong ngày 30.6 cùng năm. Năm 1893, ngài xuất bản Vocabulaire Annamite-Français, một công trình quan trọng về từ vựng Việt–Pháp. Năm 1898, ngài cho ra đời ấn bản thứ hai, được biên soạn lại và mở rộng đáng kể, mang nhan đề Dictionnaire Annamite-Français. Năm 1906, ngài tiếp tục cho xuất bản Petit Dictionnaire Annamite-Français, sau này còn có những lần tái bản và mở rộng. Génibrel cũng sưu tầm và xuất bản các truyện, truyền thuyết Việt Nam. Đặc biệt, ngài cộng tác với linh mục Jules Masseron trong Nouveau Dictionnaire Français-Annamite (1916 (Ấn bản I); tái bản 1922 (Ấn bản II & III); Tái bản 1950 (Ấn bản IV). Ngài qua đời ngày 25.5.1914 tại Tân Định, Sài Gòn.

[62] Jules-Victor Masseron (Cố Ròng) (1871–1947): sinh ngày 5.2.1871 tại Morez, thuộc Giáo phận Saint-Claude, Pháp. Ngài gia nhập Hội Thừa sai Paris năm 1893, được thụ phong linh mục ngày 29.2.1896 và lên đường sang Tây Đàng Trong (Cochinchine occidentale) ngày 8.4 cùng năm. Sau thời gian học tiếng Việt và làm việc mục vụ tại nhiều địa sở như Bãi Xan, Tha La và Phan Thiết, năm 1913 ngài được giao trách nhiệm điều hành nhà in của Hội Thừa sai Paris tại Tân Định, Sài Gòn. Chính trong môi trường này, Masseron đã đóng góp đáng kể cho công cuộc xuất bản và từ điển học Việt ngữ. Năm 1916, ngài xuất bản Nouveau Dictionnaire Français-Annamite, một công trình đồ sộ gồm 1.212 trang; năm 1922 có ấn bản thứ hai, gồm 1.083 trang. Đặc biệt, Masseron cộng tác với linh mục J.-F.-M. Génibrel trong việc biên soạn bộ từ điển Pháp–Việt này, nối tiếp và phát triển truyền thống từ điển học của các thừa sai Công giáo. Năm 1922, Masseron trở về Pháp và phục vụ tại Procure của MEP ở Marseille trong nhiều năm. Ngài qua đời ngày 17.7.1947 tại Montbeton và được an táng trong nghĩa trang của Hội Thừa sai Paris. Di sản của ngài gắn liền với từ điển học, nhà in truyền giáo và việc chuẩn hóa vốn từ Pháp–Việt đầu thế kỷ XX.

[63] Huình Tịnh Paulus Của (1830–1908) hay Paulus Huình Tịnh Của, thường ký tên Paulus Của, hiệu Tịnh Trai, là một học giả Công giáo, nhà văn hóa, dịch giả và nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam tiêu biểu của Nam Kỳ vào nửa sau thế kỷ XIX. Ông sinh năm 1830 tại làng Phước Tụy, tổng Phước Hưng Hạ, tỉnh Bà Rịa (vùng Bà Rịa – Đất Đỏ, Nam Kỳ). Mất: ngày 26.1.1908 tại Sài Gòn, là một trong những người có công lớn trong việc phát triển, chuẩn hóa và phổ biến chữ Quốc ngữ trong giai đoạn đầu. Tên tuổi Huình Tịnh Của đặc biệt gắn liền với cuốn từ điển Đại Nam quấc âm tự vị, xuất bản tại nhà in Rey, Curiol & Cie, Sài Gòn trong hai tập: năm 1895: Tập I gồm A–L; năm 1896: tập II M–X. Ngoài Đại Nam quấc âm tự vị, ông còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị về văn học, ngôn ngữ và văn hóa dân gian như Chuyện giải buồn, Sách quan chế, Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn, Câu hát góp và Ca trù thể cách. Huình Tịnh Của có thể được xem như một “điểm bản lề” trong lịch sử từ điển học Việt Nam: ông tiếp nhận thành quả của truyền thống Quốc ngữ được hình thành qua nhiều thế hệ, đồng thời đưa truyền thống ấy sang một giai đoạn mới — từ từ điển học của các thừa sai sang từ điển học Việt Nam do người Việt chủ động đảm nhận.

[64] X. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH – NGUYỄN THỊ THU TRANG (Chủ biên), Chữ Quốc ngữ: sự hình thành, phát triển và đóng góp vào văn hóa Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh 2016, bài viết: “Vai trò chữ Quốc ngữ đối với người Pháp ở Việt Nam qua báo cáo ‘Pour l’Indochine par le Quoc ngư của Jules Roux” của NGUYỄN VĂN THƯỞNG – NGUYỄN THỊ HẠNH, tr. 601.

[65] X. GIOAN PHAOLÔ II, Diễn văn tại Đại hội lần thứ XIX của CELAM, Port-au-Prince, Haiti, 9.3.1983, số 3; xem thêm Instrumentum laboris của Thượng Hội đồng Giám mục XIII, Tân Phúc âm hóa để truyền bá đức tin Kitô giáo, 2012, số 164.