“Hoạt động bác ái Kitô giáo phải có tính tự trị và độc lập đối với
chính trị và các ý thức hệ, kể cả khi hợp tác với các bộ phận của Nhà nước để đạt
đến các mục tiêu chung”
Ngày thứ ba của
Đức Thánh Cha tại Bồ ĐàoNha
Thông điệp từ hai chân phước
Gặp gỡ khách hành hương tại Đền
thánh Đức Mẹ Fatima
Trong bài giảng Thánh lễ sáng thứ năm 13-05-2010 tại Đền thánh Đức Mẹ Fatima, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh đến đời sống huyền nhiệm của hai chân phước Jacinta và Francesco.
Đức Thánh Cha cho biết Đức Maria đã dạy cho hai trẻ sống với Chúa như thế nào: “Trong bảy năm nữa, anh chị em sẽ trở lại đây để cử hành kỷ niệm một trăm năm lần viếng thăm thứ nhất của Bà “đến từ Trời”, như một bà giáo dẫn các trẻ được thị kiến đi vào sự hiểu biết thâm sâu về Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi và trải nghiệm chính Thiên Chúa như thực tại tốt đẹp nhất của hiện hữu con người”.
Đức Thánh Cha nói thêm rằng “kinh nghiệm về ân sủng” đã biến các em thành những kẻ si mê Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu, đến cái độ Jacinta đã phải thốt lên: “Tôi thực sự muốn thưa với Chúa Giêsu rằng tôi yêu mến Ngài! Khi tôi nói điều đó với Ngài nhiều lần, tôi thấy như có lửa trong trái tim, nhưng ngọn lửa ấy lại không thiêu đốt tôi”. Còn Francesco thì nói: “Điều tôi yêu thích trên tất cả mọi sự, đó là được thấy Chúa chúng ta trong thứ ánh sáng mà Mẹ chúng ta đã đặt trong tim can chúng ta. Tôi yêu mến Chúa quá đỗi!” (Hồi ký của nữ tu Lucia, I, trg. 42 và 126).”
Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến sự kiện Thiên Chúa ở sát bên mỗi người chúng ta dù chúng ta không “thấy” Người: “Thiên Chúa –mật thiết với tôi còn hơn mức độ mật thiết của tôi đối với chính mình (xem Thánh Augustinô, Tự Thuật, III, 6,11)– có khả năng đi đến tận nơi chúng ta, đặc biệt ngang qua các cảm nghiệm nội tâm của chúng ta, đến độ tâm hồn cảm nhận được sự tiếp xúc ngọt ngào của một thực tại vượt quá cái có thể cảm nhận được và làm tâm hồn có khả năng đến với cái không cảm nhận được, cái không thể nắm bắt được bằng giác quan”.
Nhưng Đức Thánh Cha cũng nói đến
điều kiện của kinh nghiệm này: “Cần phải có một con tim tỉnh thức mà nhiều khi
chúng ta không có vì áp lực nặng nề của thực tại bên ngoài, của các hình ảnh và
ưu tư đầy rẫy nơi tâm hồn (xem Giải thích thần học về Thông điệp
Đối với Đức Thánh Cha, đó là nguồn của một niềm hy vọng lớn lao: “Niềm hy vọng của chúng ta có một nền tảng đích thực, niềm hy vọng ấy dựa trên một biến cố diễn ra trong lịch sử, đồng thời vượt qua lịch sử: đó là Đức Giêsu Nazareth. Niềm phấn khởi được sự khôn ngoan và quyền năng cứu độ của Ngài gợi lên nơi con người thời đại ấy lớn đến độ một người phụ nữ ngay giữa đám đông –như chúng ta đã được nghe Tin Mừng kể lại – đã phải thốt lên: “Phúc cho lòng dạ cưu mang ông, và vú ông đã bú!” Nhưng Chúa Giêsu nói: “Phải hơn, phúc cho những ai nghe lời Thiên Chúa và noi giữ!” (Lc 11, 27.28)”.
Và Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến tầm quan trọng của lòng tin tưởng: “Niềm tin nơi Chúa mở ra cho con người chân trời của một niềm hy vọng vững chắc không làm cho người ta tuyệt vọng; lòng tin này chỉ ra một nền tảng vững vàng trên đó con người có thể xây dựng cuộc đời của mình mà chẳng có gì phải sợ hãi; niềm tin ấy đòi hỏi sự phó thác đầy tin tưởng nơi bàn tay của tình Yêu thương đang nâng đỡ thế giới.”
Ngài nêu gương của các trẻ mục đồng
tại
Vì một sự “phát triển con người toàn diện”
Cuộc gặp gỡ những người làm công
tác bác ái và xã hội
Đức Thánh Cha đã gặp gỡ khoảng 8.000 đại diện các tổ chức bác ái và xã hội của Giáo Hội Bồ Đào Nha tại nhà thờ Chúa Ba Ngôi, Fatima, vào lúc 17giờ ngày 13-05. Buổi gặp gỡ mở đầu với bài Tin Mừng về người Samari nhân hậu.
Công bằng và Bác ái
Chú giải Tin Mừng người Samari nhân hậu, Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng Đức Kitô chính là người Samari nhân hậu này, để rút ra kết luận về sự dấn thân của người công giáo: “Tình yêu vô điều kiện của Chúa Giêsu đã chữa lành chúng ta giờ đây cũng sẽ phải biến thành tình yêu được ban tặng một cách vô điều kiện và đại lượng, qua việc xây dựng công bằng và bác ái, nếu chúng ta muốn sống với một trái tim của người Samari nhân hậu”.
Đức Thánh Cha đã chào mừng các người công giáo dấn thân trong việc “thực thi lòng nhân ái đối với người nghèo, kẻ bệnh tật, kẻ bị giam cầm, những kẻ đang phải sống trong đơn độc và bị bỏ rơi, kẻ tàn tật, trẻ em và người lớn tuổi, người di dân, những người không có công ăn việc làm và tất cả những ai đang lâm cảnh khó khăn khiến phải hy sinh phẩm giá làm người tự do”.
Đức Thánh Cha khẳng định “luật căn bản của sự tòan thiện của con người, và do đó, của việc biến đổi thế giới, là điều răn mới của tình yêu thương”.
Những người giáo dân mới
Đức Thánh Cha liệt kê năm thách thức đối với công việc bác ái và xã hội của Giáo hội Bồ Đào Nha. Khởi đầu là sự dấn thân của các thế hệ mới.
Đức Thánh Cha nhắc đến việc thực thi giáo huấn xã hội của Giáo hội thuộc trách nhiệm của người giáo dân: “Việc phục vụ đức bác ái, trong chiều kích xã hội và chính trị, là hành động đặc trưng của tín hữu giáo dân, được kêu gọi để cổ vũ một cách có tổ chức công ích, công bằng và để tạo khuôn cho đời sống xã hội”. Bởi vậy, cần phải “lôi kéo những tác nhân giáo dân mới trong lĩnh vực mục vụ này”.
Tìm hiểu học thuyết xã hội của
Giáo hội
Kế đó, và đây là thách thức thứ hai, Đức Thánh Cha kêu gọi người công giáo tìm hiểu học thuyết xã hội của Giáo hội, bởi vì học thuyết này “xem bác ái như là nguyên lý và sức mạnh chính” và nó “sẽ cho phép vạch ra một quy trình phát triển con người toàn diện bao gồm những chiều sâu thẳm của con tim và nhắm đến việc nhân bản hóa xã hội một cách rộng rãi nhất (Thông điệp Caritas in Veritate, số 20)”.
Nhưng phải tìm hiểu thế nào? “Không phải chỉ để có một kiến thức thuộc lĩnh vực lý trí, mà là để có được một sự khôn ngoan thực tiễn, tạo sự sáng tạo cho các con đường nhận thức và hành động nhằm đương đầu với một cuộc khủng hoảng rộng khắp và phức tạp”.
Thống nhất con tim, đầu óc và
hành động
Thách đố thứ ba, đó là việc tạo nên sự hài hòa vốn rất khó giữa “đời sống thiêng liêng” và “hoạt động”, trong một xã hội mang nặng dấu ấn của tính hiệu quả.
“Quả không dễ dàng đạt đến được một sự hài hòa có thể chấp nhận được giữa đời sống thiêng liêng và hoạt động tông đồ”, Đức Thánh Cha nhận xét.
Thế nhưng, ngài nói, “việc tổng hợp này lại cực kỳ cần thiết, thưa anh chị em, để có thể phục vụ Đức Kitô trong nhân loại đang chờ đợi anh chị em”, bởi vì “trong cái thế giới bị phân tán này, sự thống nhất thâm sâu và đích thực của con tim, đầu óc và hành động là điều cần thiết đối với mọi người”.
Căn tính Kitô giáo
Thách đố thứ tư, đó là căn tính Kitô giáo. Đức Thánh Cha đòi hỏi nơi các tổ chức xã hội của Giáo hội một “định hướng rõ ràng” để các tổ chức này “có được một căn tính hiển nhiên vừa trong các mục tiêu các tổ chức này theo đuổi, vừa trong việc chọn các nguồn nhân lực, trong các phương pháp hành động của họ, trong tính chất của công việc, trong việc quản lý một cách nghiêm túc và hữu hiệu các phương tiện của mình”.
“Căn tính vững chắc của các thể chế là một sự phục vụ đích thực rất có ích lợi đối với những ai được hưởng sự phục vụ này”.
Tự trị và độc lập
“Hoạt động bác ái Kitô giáo phải có tính tự trị và độc lập đối với chính trị và các ý thức hệ, kể cả khi hợp tác với các bộ phận của Nhà nước để đạt đến các mục tiêu chung”. Đó là thách đố thứ năm.
Đề cập đến không phải “cuộc khủng hoảng”, mà “các cuộc khủng hoảng”, Đức Thánh Cha kêu gọi phải có sự “phân biệt”: “Diễn biến lịch sử hiện nay được tạo nên bởi các cuộc khủng hoảng xã hội-kinh tế, văn hóa và tinh thần, và cho thấy sự cần thiết phải có một sự phân biệt được định hướng bởi việc đề nghị, một cách sáng tạo, thông điệp xã hội của Giáo hội”.
Và Đức Thánh Cha nối kết với
thông điệp
Giáo hội trước nghèo khổ
Gặp gỡ các giám mục
Trong cuộc gặp gỡ các giám mục Bồ Đào Nha tại Phòng hội nghị “Casa Nossa Senhora do Carmo”, Fatima, chiều thứ năm 13-05, Đức Thánh Cha đã kêu gọi phải đẩy mạnh sứ vụ loan báo Tin Mừng của các Kitô hữu và đào tạo “một tầng lớp giáo dân trưởng thành đồng hóa mình với Giáo Hội và gắn với việc biến đổi thế giới vốn phức tạp”.
Đức Thánh Cha mong mỏi các giám mục phải là những “người cổ vũ cho một nền văn hóa và một nền đạo đức của bác ái và hòa bình, của hy vọng và công lý, của lòng tin và phục vụ”. Để được như vậy, ngài kêu gọi các giám mục “làm bùng lên” nơi các ngài và “xung quanh” các ngài, các tình cảm thương xót và cảm thông để có thể đáp ứng những tình cảnh thiếu thốn trầm trọng trong xã hội.”
Theo Đức Thánh Cha, cần phải tạo nên những tổ chức, những bộ phận có khả năng “đáp ứng, với tinh thần sáng tạo, mọi thứ nghèo bao gồm cả những cái nghèo do thiếu ý thức về đời sống và do thiếu niềm hy vọng.”
“Hãy bền bỉ theo đuổi trong đất nước quý vị chứng từ của các ngôn sứ về công lý và hòa bình, của những kẻ bảo vệ các quyền bất khả nhượng của con người, hòa tiếng nói của mình với tiếng nói của những kẻ yếu nhất.”
“Cần phải có những người thực sự làm chứng cho Đức Giêsu Kitô, nhất là tại những nơi tiếng nói đức tin hầu như câm lặng: các chính trị gia, các nhà trí thức, các nhà chuyên nghiệp trong ngành truyền thông chủ trương và cổ vũ một định hướng văn hóa độc nhất, coi nhẹ chiều kích tôn giáo và chiêm niệm của cuộc sống.”
Đức Thánh Cha lưu ý: “Trong những môi trường này, có những tín hữu cảm thấy xấu hổ về lòng tin của mình, từ đó, tiếp tay cho phong trào tục hóa vốn cản trở tác động của niềm tin Kitô giáo. Tuy nhiên, trong những môi trường này, cũng có không ít những người can đảm bảo vệ một ý tưởng mạnh mẽ của đức tin công giáo, trung tín với giáo huấn của Giáo Hội. Những người ấy cần tiếp tục được sự khuyến khích của quý giám mục và nhận được lời soi sáng để sống, với tư cách những tín hữu giáo dân, trong sự tự do của người Kitô hữu”.
Lấy lại chủ đề của cuộc gặp gỡ với giới hoạt động bác ái và xã hội về tính trự trị và độc lập, Đức Thánh Cha kêu gọi đừng “khóa miệng” lòng tin: “Hãy duy trì chiều kích ngôn sứ luôn sống động, tự do, trong lịch sử hiện tại của thế giới, bởi vì “Lời Thiên Chúa không bị xiềng xích” (2Tm 2, 9). Con người đòi hỏi Tin Mừng Đức Giêsu Kitô vốn đem lại ý nghĩa cho cuộc đời họ và bảo vệ phẩm giá của họ.”
Thực vậy, đối với Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, các giám mục là những nhà rao giảng Tin Mừng đầu tiên và điều có tính quyết định là “tạo được nơi tất cả những ai rao giảng Tin Mừng một lòng mong ước thực sự thánh thiện, và ý thức được rằng mọi thành quả đều tùy thuộc chủ yếu vào sự kết hiệp với Chúa Kitô và tác động của Thần Khí của Ngài.”
Đức Thánh Cha cũng nói lên xác tín của ngài là người ta không đánh động được con tim “chỉ bằng những bài diễn văn đơn thuần hay qua việc nhắc lại các nguyên tắc đạo đức, luân lý, và càng không phải với những ám chỉ chung chung tới các giá trị Kitô giáo.” Bởi vì “việc công bố thông điệp một cách đơn thuần sẽ không tới được đáy lòng con người, không đụng tới được sự tự do của họ, không biến đổi được cuộc sống của họ. Cái hấp dẫn, làm say mê, chính là sự gặp gỡ với những con người có niềm tin, và qua niềm tin của họ, kéo được ân sủng của Chúa Kitô, bằng cách làm chứng về Ngài. Chúa Thánh Thần sẽ tạo nên một mùa xuân mới, làm thức dậy nơi người trẻ và người trưởng thành niềm vui được làm người Kitô hữu, được sống giữa lòng Giáo Hội vốn là Thân mình sống động của Đức Kitô.”
“Nhờ các ơn đoàn sủng, tính triệt để của Tin Mừng, nội dung khách quan của lòng tin, dòng triều sống động của truyền thống được truyền đạt một cách thuyết phục và được đón nhận như một kinh nghiệm bản thân, nghĩa là như một sự gắn kết của tự do với biến cố hiện tại của Đức Kitô”, Đức Thánh Cha nhận định.
Trước sự nở rộ của các phong trào mới, Đức Thánh Cha mời gọi các vị chủ chăn tìm cách duy trì tính cách “giáo hội” của các phong trào này. Ngài không chấp nhận có sự đối nghịch giữa “thể chế” và “đoàn sủng” và Đức Thánh Cha tuyên bố: “Các chủ chăn không chỉ là những người giữ một trách nhiệm, mà bản thân các ngài là những người mang đoàn sủng, những người có trách nhiệm mở toang Giáo Hội trước hoạt động của Thánh Thần.”
Cuối cùng, Đức Thánh Cha mời gọi các giám mục khám phá lại điều ngài gọi là “tình phụ tử giám mục”, “tìm lại lòng sốt mến của khởi thủy”, “niềm vui của buổi đầu trong kinh nghiệm Kitô hữu.”